Quantcast
Channel: Điểm Tin & Tư Liệu(Người Lót Gạch)
Viewing all articles
Browse latest Browse all 6664

4 bài viết chính trị của Nguyễn Trung(TL)

$
0
0

Về đại hội XII của ĐCSVN
                                                               BÀI 1

Chữ tín

 
Nguyễn Trung
  
         Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam nên bắt đầu từ đi tìm chữ tín, làm tất cả mọi việc có thể để thực hiện chữ tín.
          Thiết nghĩ đây là điều quan trọng nhất, thách thức đến mức sống hay là chết, ĐCSVN lúc này nên làm, nhất là quá trình chuẩn bị đại hội XII đã bắt đầu.
          Sở dĩ đặt vấn đề như vậy là vì những lý do sau đây:
          Một là:
          Tuy chưa dám đụng tới bản chất của sự vật, nhưng tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng không dưới một lần đã phải nói trước toàn đảng và toàn dân tệ nạn quan liêu tham nhũng và sự tha hóa về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ đảng viên đã tới mức đe dọa sự tồn vong của chế độ, làm cho lòng tin của nhân dân vào ĐCSVN giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó đất nước ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phải giải quyết vượt quá tầm năng lực của đảng. Tình trạng mất dân chủ và các thói hư tật xấu khác của tàn tích văn hóa phong kiến tiểu nông hầu như loại bỏ khả năng thay máu đổi mới đảng. Cái gọi là kiên định ý thức hệ xã hội chủ nghĩa một mặt là vũ khí bảo vệ quyền lực của đảng, nhưng đồng thời mặt khác là kẻ thù số một đối với mọi xu thế và nỗ lực trong đảng muốn đổi mới đảng[1].
Nhìn vào đời sống thực, phải nói từ gần một thập kỷ nay đất nước lâm vào một thời kỳ sa sút toàn diện và trầm trọng nhất chưa có lối thoát kể từ khi sự nghiệp độc lập – thống nhất của đất nước được hoàn thành ngày 30-04-1975. Đà phát triển năng động của đất nước bị chặn đứng; độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia phải đối phó với những uy hiếp mới. 
Nguyên nhân hàng đầu của thực trạng nói trên là: Sự tha hóa của ĐCSVN trong thời bình đã chọn việc bám giữ vai trò cầm quyền (thực ra là vai trò cai trị) của mình làm mục tiêu tối thượng, sẵn sàng dùng mọi biện pháp tệ hại có thể của quyền lực để thực hiện mục tiêu này. Lợi ích quốc gia và quyền làm chủ của nhân dân phải xếp xuống hàng thứ hai và chỉ được thực hiện khi tình thế bắt buộc và trong chừng mực bảo toàn được quyền lực của đảng.  
Nói cho rốt ráo, quyền lực của ĐCSVN hôm nay thực chất chỉ còn lại là quyền lực của những người, những nhóm nắm thực quyền trong đảng; nghĩa là chính bản thân ĐCSVN với tính cách là một tổ chức cũng bị quyền lực của những người và những nhóm có thực quyền này chi phối. Sự chi phối này thể hiện rõ nhất ở chỗ cương lĩnh, điều lệ và những nguyên tắc làm việc trong đảng thường xuyên bị vi phạm ở mọi cấp, nhất là sự vi phạm từ trên xuống; dân chủ trong đảng thực ra không tồn tại.  
Hệ quả đối với toàn đảng là kỷ cương không nghiêm, tính tiền phong chiến đấu của đảng từng bước bị loại bỏ, trên thực tế đến hôm nay đảng chỉ còn lại là một lực lượng chính trị mạnh áp đảo, đang nắm trọn trong tay vận mệnh đất nước. 
Hệ quả đối với toàn bộ đời sống đất nước là luật pháp bị chà đạp, nhiều giá trị đạo đức – xã hội bị băng hoại nghiêm trọng, có biết bao nhiêu quyết sách đúng thất bại, năng lượng phát triển của đất nước bị tiêu phí, hủy hoại.  
Hệ quả chung cuộc là để bù lại những yếu kém đang ngày càng đe dọa mình, ĐCSVN buộc phải tiếp tục “siết” hơn trong việc cầm quyền và đồng thời phải tiếp tục cho dối trá lộng hành để bảo toàn địa vị nắm quyền của đảng. Tình hình nguy hiểm đến mức độ ĐCSVN bây giờ có định làm việc gì tốt cũng khó thành công, định nói đúng nói thật điều gì dân cũng khó tin, không tin.  
Nhưng cho dù tăng “siết” và dối trá như thế, quyền lực của đảng vẫn cứ tiếp tục suy yếu. Dẫn tới đảng và dân ngày càng xa cách nhau hoặc đối nghịch nhau. Thậm chí ngay trong nội bộ đảng với nhau, chữ tín thường phải nhường bước trước sức mạnh của dối trá và quyền lực…  Chính cái vòng luẩn quẩn này đang làm mục ruỗng sức sống của ĐCSVN, khiến cho tha hóa trong đảng ngày càng ngự trị, với hệ quả cực kỳ nguy hiểm: đảng không giữ được chữ tín đối với dân, còn chữ tín trong dân dành cho đảng bị đánh cắp. Thực tế này đang làm sâu sắc thêm tình trạng đảng và dân phải đối phó lẫn nhau, và cứ thế ngày đêm gây thêm tai ương mới cho đất nước. 
          Đã đến lúc phải thừa nhận: Vì thiếu vắng chữ tín trong đời sống đất nước, chưa bao giờ ý chí của người dân và của người đảng viên ĐCSVN bị làm nhụt như hiện nay, lòng dân phân tán. Thử hỏi, đất nước như thế này làm sao đi lên được?         
Hai là: 
          Đất nước phải bước vào một cuộc chạy đua quyết liệt với nhiều thách thức mới ập đến từ mọi phía. Nhất là trong bối cảnh khu vực của chúng ta đang nóng lên những biến động bất thường – nóng bỏng nhất là cái “đường lưỡi bò”. Thế giới đang diễn ra một cuộc sắp xếp lực lượng mới… 
Ngay trước mắt, chuyển đất nước ta đi vào một thời kỳ phát triển mới như thế nào, hiện nay chưa có lời giải, chưa được chuẩn bị về rất nhiều mặt. Trong khi đó giai đoạn phát triển đầu tiên của đất nước đã kết thúc, đặt ra cho đất nước nhiều vấn đề mới và khó, thậm chí cực khó. Lực lượng nắm quyền lãnh đạo đất nước biết, hoặc không biết thấu, không biết đủ, hoặc không có khả năng biết đúng nhiều vấn đề đang đặt ra cho đất nước. Quan trọng hơn thế là lãnh đạo đang giấu dân, hoặc không để dân biết toàn bộ hiện trạng của đất nước, giấu dân cả về những thách thức mới cũng như tình trạng bất cập của đảng và của chế độ chính trị. Thất bại và việc dùng đội ngũ dư luận viên che giấu sự thật chỉ càng tăng thêm hủy hoại lòng tin của nhân dân đối với đảng. Chữ tín của đảng đối với dân đã thiếu vắng lại càng thiếu vắng.
Có thể lẩy ra một vài điểm để bàn thảo. 
Chỉ tính từ khi đổi mới, gần ba thập kỷ đã qua, nhưng đất nước còn đứng rất xa cái mốc trở thành một nước công nghiệp hóa, mặc dù mục tiêu này đã nhiều lần được các đại hội đảng điều chỉnh thấp đi (vận dụng cách nói co dãn) và kéo dài thời gian. Nghị quyết hiện hành nói năm 2020 cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng mục tiêu này có đạt được không? Nhất là chưa ai nói được đó sẽ là một Việt Nam công nghiệp như thế nào trong thị trường của thế giới toàn cầu hóa hôm nay?..  
Tính theo sức mua (PPP), GDP p.c. năm 2013 của ta bằng khoảng 1/3 của Thái Lan (3500 USD/10.000 USD). Giới chuyên môn đánh giá, cứ giữ cung cách làm ăn và chế độ quản lý đất nước như hiện nay, Việt Nam cần vài ba thập kỷ nữa mới đuổi kịp trình độ phát triển của Thái Lan bây giờ (hiện được coi là nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nghĩa là chưa phải là một nước công nghiệp). 
Không ít nhà kinh tế trong nước và trên thế giới lo lắng Việt Nam làm sao thoát được cái bẫy thu nhập trung bình thấp, bởi vì khủng hoảng kinh tế trầm trong hiện nay tuy đang có triển vọng có thể thoát đáy, song nếu giỏi cũng phải vài ba năm nữa kinh tế Việt Nam mới phục hồi – bởi vì những u bướu không ít phần ác tính của nợ nần, của những ách tắc mang tính cơ cấu trong kinh tế, của vỡ bong bóng thị trường bất động sản, của thất thoát trong các tập đoàn kinh tế quốc doanh, của rối rắm trong hệ điều hành… nan giải lắm. Sau đó có tìm được đường đi lên hay không – đó sẽ là một câu chuyện khác và còn để ngỏ. Bởi vì đến giờ này vẫn chưa có chiến lược và mục tiêu sản phẩm, chưa có quy hoạch bài binh bố trận, chưa biết lấy đâu ra nguồn lực triển khai kết cấu hạ tầng cho giai đoạn phát triển mới… Lại càng không thể có một nước công nghiệp hóa trong một thể chế chính trị có bản chất không đáp ứng được sự vận động của nó… Nghĩa là, ngay từ bây giờ đã thấy không thể hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa vào năm 2020. Mà để chậm như thế một ngày, uy hiếp mọi mặt đối với đất nước sẽ lớn thêm một ngày. Song cho đến nay đảng tuyệt nhiên chưa có một lời cảnh báo nào về tình hình này để cả nước định liệu. 
Thật đáng lo là hiện nay Việt Nam chưa chuẩn bị được bao nhiêu cho thời kỳ phát triển mới. Khái niệm chung chung “cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” không vạch ra được điều gì cụ thể về tư duy chiến lược. Trong khi đó mọi nguồn lực  - kể từ kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực có chất lượng, tiềm năng khoa học kỹ thuật và công nghệ, sự tích lũy của nội địa, chất lượng của thị trường, năng lực quản lý của nhà nước, khả năng thực thi của luật pháp, vân vân… - để đưa Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới đều vô cùng hạn hẹp, thậm chí thiếu nhiều thứ. Cho đến giờ phút này Việt Nam vẫn chưa có một chiến lược dưới dạng một chương trình hành động có tính ràng buộc pháp lý (cam kết bằng luật pháp của quốc hội, của nhà nước, được cụ thể hóa bằng quy hoạch, kế hoạch…) cho mục tiêu, cho con đường, cho lộ trình các bước đi của một thời kỳ phát triển mới. Hiển nhiên trí tuệ, tầm nhìn của ý thức hệ cũng như tư tưởng nhiệm kỳ không cho phép đảng làm việc này.  
Xin lưu ý, cùng một xuất phát điểm gần giống nhau, Hàn Quốc đã hoàn thành công nghiệp hóa trong khoảng 3 thập kỷ (1960 – 1990), với một nguồn lực trong nước và thu hút được từ bên ngoài chỉ bằng ½ khối lượng Việt Nam có được từ đổi mới đến nay (1986 - 2014)! Trong khi đó, đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa giải quyết xong vấn đề nông nghiệp của một quốc gia công nghiệp hóa, để vừa có một nền nông nghiệp hiện đại theo đúng đòi hỏi của một nước công nghiệp, vừa có một tỷ trọng là khoảng ¼ hay 1/5 lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp (tỷ trọng này của Hàn Quốc 1990 khoảng 12%, hiện nay khoảng 6%). Trớ trêu hơn nữa, hiện nay đang cùng một lúc xảy ra hiện tượng nông dân ta không đủ ruộng làm, nhưng diện tích nông dân trong cả nước bỏ ruộng hoang lên đến nhiều vạn hecta – chỉ vì làm nông nghiệp như hiện nay không sống được (bỏ ruộng vì biến đổi của môi trường tự nhiên không tính). Luật pháp và các chính sách hiện hành hầu như bất lực trước thực trạng này, cũng không thể hỗ trợ quá trình tích tụ ruộng đất để đi lên sản xuất lớn và hiện đại. Nông dân nhiều nơi đành tự lo, tự phá rào, luật pháp chứa chấp thêm những bất thiêng mới, kinh tế xuất hiện những rủi ro mới... 
Cho đến hôm nay và trong vòng một, hai thập kỷ tới, chưa làm sao xác định được công nghiệp Việt Nam sẽ nằm trong chuỗi cung / ứng nào, chiếm lĩnh sản phẩm nào, thị phần nào trong nền kinh tế toàn cầu hóa… Chẳng lẽ vẫn cứ dệt may là chủ lực? Rồi đây sẽ vươn lên đến xuất khẩu hộ thép và sản phẩm lọc dầu được nước ngoài đưa vào sản xuất trên đất nước ta? – nghĩa là tiếp thu một nền công nghiệp bẩn, biến đất nước ta thành đất nước cho thuê đất đai và môi trường, dân ta trở thành người đi làm thuê bằng lao động cơ bắp là chủ yếu!.. Chưa nói đến, hiện nay nếu không giải quyết thành công hàng năm đưa hàng chục vạn người đi lao đông ở nước ngoài thì không thể giải quyết được vấn đề thất nghiệp và vấn đề xóa đói giảm nghèo. Rồi hàng vạn phụ nữ Việt Nam phải đi lấy chồng nước ngoài chỉ vì lý do kinh tế!.. Vân vân và vân vân.
Nước ta có tứ trụ của hệ thống chính trị là tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Một điểm nổi bật là tất cả những vị lãnh đạo này khi đăng đàn tại các địa phương, các bộ, ngành.., đều chỉ thị và chỉ đạo công việc rất sát sao: nêu câu hỏi cho kinh tế phải nuôi con gì, trồng cây gì, đặt vấn đề phải phát triển sản phẩm gì, phải phấn đấu xây dựng nông thôn mới ra sao, phải thi đua học tập tấm gương và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải xây dựng đảng vững mạnh, phải phát huy quyền làm chủ của dân… Không thể không đặt ra nhiều câu hỏi: Nếu chỉ thị và chỉ đạo giống nhau như vậy có phải là nhiệm vụ giống nhau của cả tứ trụ không? Nếu làm một việc giống nhau như thế liệu có cần cả 4 người không? Làm việc như thế, nhiệm vụ được phân công riêng cho từng vị sẽ như thế nào? V… v... Chỉ một ví dụ nhỏ này đủ phản ảnh sự rối rắm, chồng chéo và chồng lấn lên nhau với nhiều hệ lụy rất tệ hại của hệ thống chính trị quốc gia: đảng, nhà nước (?), quốc hội và chính phủ. Hàng ngày đất nước có muôn vàn ví dụ rối rắm chồng chéo nhau như thế. Mọi đề nghị cải cách thể chế chính trị - nhất là vào dịp sửa đổi hiến pháp - để khắc phục sự rối rắm này đều bị bác bỏ - với giải thích: Đấy là cách thực hiện sự thống nhất quyền lực của hệ thống chính trị và của nhà nước dưới sư lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của ĐCSVN. Vân vân… 
Ba là: 
Vốn quý nhất của nước ta là con người và vị trí địa kinh tế - địa chiến lược của Việt Nam. Nhiều nước mơ có được lợi thế này. Nhưng nền giáo dục và thể chế chính trị hiện hành là những nguyên nhân hàng đầu cản trở phát huy lợi thế chiến lược này, thậm chí còn gây ra nhiều hậu quả lớn cho đất nước.  
Song nguyên nhân cơ bản nhất hủy hoại lợi thế nói trên và dẫn đến sự yếu kém mọi mặt của đất nước hôm nay là sau khi hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất đất nước, ĐCSVN với tính cách là lực lượng lãnh đạo duy nhất, đã không đặt ra cho mình nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là xây dựng bằng được quyền làm chủ đất nước của nhân dân trong một thể chế chính trị của nhà nước pháp quyền dân chủ, không giúp cho nhân dân tự trau giồi và trang bị cho chính mình quyền năng thực thi quyền làm chủ đất nước của mình. Khỏi phải bàn, cổ nhân đã nói: Dân là chủ nhân mạnh, thì sẽ “thuê” được sự lãnh đạo mạnh của đảng và sự quản lý giỏi của nhà nước; và như thế đảng sẽ mạnh, nhà cũng nước cũng sẽ mạnh, đất nước sẽ hùng mạnh. Cổ nhân cũng nói tiếp: để dân là chủ không ra chủ, để tớ không ra công bộc của dân, thì đất nước lụn bại. Những điều hiển nhiên này đâu có gì xa lạ?!
 Song rõ ràng ĐCSVN kể từ 30-04-1975 cho đến hôm nay vẫn không coi thực hiện nhiệm vụ này là tiền đề đầu tiên mang tính quyết định tất cả và mãi mãi cho toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của một nước Việt Nam độc lập thống nhất.
 Không thể đổ lỗi cho nhân dân ta lạc hậu, cho hoàn cảnh quốc tế khắc nghiệt… để thanh minh, để biện hộ…
 Đúng ra phải nói: Chính vì xuất phát điểm của nước ta lạc hậu, chính vì bối cảnh quốc tế rất khắc nghiệt, nên sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc kể từ khi giành được độc lập thống nhất nhất thiết phải bắt đầu từ thực hiện bằng được nhiệm vụ chiến lược nêu trên. Bởi vì chỉ một đất nước do nhân dân thực sự làm chủ như thế mới có thể sẽ có tất cả, mới có thể thắng được tất cả mọi thách thức bất kể từ đâu tới. Lãnh đạo là thực hiện sứ mệnh tạo ra cho dân và cho đất nước một sức sống như thế của quốc gia, chứ không phải là ngồi lên dân. 
Nhưng từ sau 30-04-1975 cho đến hôm nay ĐCSVN đã và đang có sự lựa chọn khác – mặc dù đảng ghi trên lá cờ của mình: Tất cả vì đất nước, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. 
Nhìn lại, cũng phải nói: Gần 4 thập kỷ đã tiêu phí, và nguồn lực mọi mặt có thể huy động được của đất nước, của truyền thống kiên cường sáng tạo Việt Nam, của trí tuệ văn minh thế giới ngày nay, của bối cảnh toàn cầu hóa… thực ra đã hoàn toàn cho phép ĐCSVN đủ sức hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ sống còn bậc nhất này, nếu đảng coi đấy là sự lựa chọn của mình.  
Nhưng, như đã nói, ĐCSVN đã không lựa chọn như vậy, do đó đã dẫn đến thực trạng đất nước hôm nay. Chính đây là sự thất hứa nghiêm trọng nhất đối với những gì đảng đã cam kết với dân tộc, với đất nước.  
Sự thất hứa nêu trên đồng thời cũng là thất bại nghiêm trọng nhất của đảng trong toàn bộ lịch sử đấu tranh của mình kể từ khi thành lập, là thắng lợi đáng khiếp sợ nhất của tha hóa trong đảng. Sự thất hứa này còn là nhân tố hàng đầu đang hủy hoại phẩm chất và truyền thống cách mạng của đảng. Sự tha hóa này tạo ra ngay trong đảng kẻ thù không đội trời chung đang nhăm nhăm biến chất và tiêu hủy đảng.  
Bốn là: Phải bắt đầu lại từ chữ tín
Trí tuệ của văn minh nhân loại và bối cảnh thế giới toàn cầu hóa ngày nay trong thời đại tin học hoàn toàn cho phép sự khởi nghiệp của các quốc gia đi sau như nước ta thành công. 
Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp đã được trí tuệ của nhân loại đúc kết, đó là thực hiện nghiêm túc các tiêu chí:  (a) quyền sở hữu tư nhân, (b) quyền tự do cá nhân trong khuôn khổ một thể chế chính trị dân chủ, (c) trí tuệ giữ vai trò ưu tiên để trở thành động lực của phát triển. Bí quyết thành công của quốc gia khởi nghiệp còn nằm trong quá trình hoàn thiện và phát triển không ngừng kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự… … Trong thế giới hôm nay, những bí quyết này chẳng còn gì là bí mật, là hoang tưởng, chẳng có gì phải mò mẫm, phải đoán già đoán non như thời đại Nguyễn Trường Tộ, mà đang là hiện thực ngoạn mục của hàng chục nước đi sau ở mọi châu lục. Cũng thực tiễn đáng học hỏi này của các nước đi sau đang khẳng định một thực tế như một nguyên lý: Những bí quyết nêu trên chỉ có thể vận dụng thành công trong một quốc gia lựa chọn con đường phát triển hòa bình của cải cách thường xuyên và triệt để, bắt đầu từ giáo dục… 
Nhưng ĐCSVN đã để mọi việc phải làm trễ mất gần 4 thập kỷ rồi, sự tha hóa đã chiếm được thế thượng phong trong đảng rồi, làm thế nào bây giờ? 
Trả lời:  Vẫn còn kịp, nếu ĐCSVN bắt đầu lại từ chữ tín. 
Trên đời này không thiếu gì một con người thất bại hay một quốc gia đổ vỡ đã lập lại cuộc đời hay khởi nghiệp lại bằng cách bắt đầu từ chữ tín. Cũng không thiếu gì kinh nghiệm sống ở khắp thế gian này: Giữ được chữ tín sẽ làm nên tất cả. 
Còn quan trọng hơn thế, nhân dân ta đủ kinh nghiệm xương máu đã trải qua, đủ hiểu biết những gì đang phải chịu đựng trong chế độ chính trị hiện tại, đồng thời cũng đủ nghị lực, bản lĩnh và sự bao dung để lựa chọn con đường cải cách hòa bình và hòa giải, không mong muốn gì hơn con đường cải cách trong hòa bình, trong hòa giải.  
Tối ưu nhất đối với đất nước trong tình hình hiện nay chính là ĐCSVN – với tính cách là lực lượng chính trị mạnh áp đảo – tự đứng lên cởi trói cho bản thân mình, và đồng thời vận động toàn dân khai phá con đường cải cách này. Có đủ căn cứ để nói: Cho đến giờ phút này, nhân dân vẫn sẽ hoan nghênh, vẫn sẽ chấp nhận sự lựa chọn này của đảng. Vâng, cho đến giờ phút này. Bởi vì đấy là con đường ngăn chặn tái diễn thảm cảnh nồi da xáo thịt, là con đường sống của cả đất nước, cả dân tộc. Có thể dám chắc nhiều đảng viên chân chính có hiểu biết thấy rõ được thực trạng của đảng và của đất nước, tán thành con đường cải cách. Nhiều người trong số họ đã công khai có những ý kiến tâm huyết và trí tuệ về giải pháp, về cách tiếp cận con đường cải cách.  
Có thể khẳng định trong nhân dân và trong đảng có đủ trí tuệ và năng lực cho một cuộc cải cách vỹ đại rất xứng đáng với tầm vóc của đất nước. Chất xám của thế giới có thể huy động được cho sự nghiệp cải cách vỹ đại này không thiếu. Cả thế giới tiến bộ chắc chắn hậu thuẫn nỗ lực này của đất nước ta. Trên hết cả, vận mệnh đất nước và những thách thức đang đặt ra bắt buộc nước ta phải tiến hành cuộc cải cách chính trị triệt để không thể thoái thác, để vượt qua khúc quanh của lịch sử đất nước ta đang rơi vào, đưa nước ta vào một thời kỳ phát triển mới của một nước Việt Nam độc lập, dân tộc và dân chủ, cùng đồng hành với cả thế giới tiến bộ. Ai có thể thờ ơ với sự nghiệp cải cách này?
Để tìm được con đường cải cách như thế, ĐCSVN hãy bắt đầu từ thực hiện chữ tín với nhau trong đảng, và đồng thời thực hiện chữ tín của đảng đối với dân, làm tất cả mọi việc có thể để dựng lên chữ tín – xin nhấn mạnh: phải làm tất cả mọi việc có thể cho mục tiêu sống còn này với tinh thần tổ quốc trên hết!
Việc đảng thực hiện chữ tín của mình đối với dân hãy bắt đầu từ việc đảng thực hiện nói thật, nói đi đôi với làm, từ việc đảng để cho dân nói và chịu nghe dân nói, đồng thời thực hiện công khai minh bạch để tất cả cùng nhau xác nhận chữ tín. 
Bắt đầu các khâu chuẩn bị từ hôm nay, có còn cách nào tốt hơn để xúc tiến đại hội XII không?  
Nếu ĐCSVN không tìm cách bắt đầu lại từ chữ tín, đại hội XII chắc chắn sẽ không thể đi quá được cái vạch đã định sẵn từ các đại hội trước: Cuối cùng sẽ chỉ thực sự làm được mỗi một việc là quyết định ai ở ai đi trong “ê-kíp” lái tầu mới mà thôi, còn con tầu đảng vẫn lao tiếp trên con đường đang đi, với quy luật muôn đời là: đường nào đích nấy, nhân nào quả ấy. 
Nếu quyết không phản bội lại truyền thống cách mạng của chính mình, không phản bội lại hy sinh của dân tộc, ĐCSVN hoàn toàn có đủ điều kiện bắt đầu lại từ chữ tín./. 
Hà Nội, ngày 12-02-2014

 

06-03-2014                                                      Bài 2

Sự lựa chọn của tôi: Cải cách


I-Bạn bè quở trách
Không thể nói tôi chai lỳ với những lời nhiếc mắng chân tình của bạn bè thân thiết nhất về những gì tôi viết ra. Lần này sự quở trách ấy dành cho bài Chữ tín, [1] trong đó tôi khuyên đại hội XII sắp tới của ĐCSVN – kể cả khâu chuẩn bị - nên bắt đầu từ việc tìm cách thực hiện chữ tín. Đó là những lời nhiếc mắng đã từng nhiều lần dành cho tôi: ngu trung, ảo tưởng, ngây thơ, nặng về tình cảm… vân vân… 
Những lời phê phán khác của người Việt khắp thế gian với nghĩa là quyền ăn quyền nói đương nhiên của mỗi người, thì dỏng tai nghe, cố hiểu người nói, không có gì đáng phải băn khoăn ở đây cả.
Thật ra tôi đã lường được tất cả, đã cân nhắc tất cả trước khi viết. 
Đã quá xa cái tuổi cổ lai hy rồi, tôi ít nhiều hiểu được những điều phải hiểu liên quan đến quyền lực – sức mạnh và quyền năng của nó, những mặt nham hiểm hay bỉ ổi của nó... Song suy ngẫm mọi bề, cuối cùng tôi vẫn phải chọn lời khuyên ĐCSVN tìm cách thực hiện “chữ tín”, đơn giản vì đất nước đòi hỏi nhất thiết phải mở đường sống thông qua cải cách chính trị để thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, lý tưởng nhất là trong hòa bình. Xin nhấn mạnh, đấy là sự lựa chọn của tôi. 
Cuộc sống có nhiều lý do rất quan trọng khiến tôi phải cân nhắc kỹ cho sự lựa chọn này của mình. Đắn đo mãi, cuối cùng tôi rút ra kết luận cho chính mình: Dù sự tha hóa của quyền lực hiện tại có thể gây nên bất kể tội lỗi gì, nhưng nếu xót xa với từng hy sinh mất mát của cả dân tộc ta trong hơn một thế kỷ qua, nếu trân trọng từng sinh mạng, từng giọt mồ hôi nước mắt của nhân dân cả nước phải bỏ ra kể từ sau 30-04-1975 đến nay, nếu đặt lợi ích sống còn của đất nước lên trên hết, tôi lựa chọn:
(1) Cải cách hòa bình để chuyển đổi thể chế chính trị độc tài toàn trị hiện nay của đất nước sang một chính thể dân chủ của một nhà nước pháp quyền. Đấy là con đường duy nhất tránh cho đất nước một cuộc bể dâu mới nồi da xáo thịt, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc trong khủng hoảng, mở ra một thời kỳ phát triển mới mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong bối cảnh quốc tế mới hiện nay đòi hỏi. 
(2) Để có được một cuộc cải cách trọng đại như thế trong hòa bình, mọi việc phải bắt đầu từ ĐCSVN, với tính cách là lực lượng chính trị mạnh nhất và đang duy nhất nắm trọn vẹn trong tay quyền cai trị đất nước. Với tính cách như thế, ĐCSVN cần chủ động mở đường đi vào cuộc cải cách này. Nếu ĐCSVN không chịu chủ động như thế, nhân dân cả nước cần đồng lòng đòi hỏi bằng được ĐCSVN phải thực hiện nhiệm vụ cải cách chính trị này. Đơn giản vì nhiệm vụ này là lời hứa phải thực hiện mà ĐCSVN đã ghi trên lá cờ của mình khi hiệu triệu nhân dân đứng lên làm cách mạng. Nhiệm vụ chính trị này là món nợ chính trị số một với dân với nước, ĐCSVN từ khi đất nước độc lập thống nhất đến nay vẫn chưa thực hiện, bây giờ nhất thiết phải trang trải (đã nêu trong điểm 3, bài 1). 
(3) Và trên hết cả, về nhiều mặt, nhiệm vụ cải cách duy tân đất nước hiện nay còn phải được coi là một nghĩa vụ thiêng liêng đối với từng người dân Việt Nam, có sự ràng buộc bằng hy sinh xương máu của biết bao nhiêu thế hệ Việt Nam kể từ khi mất nước vào tay chủ nghĩa thực dân Pháp cho đến hôm nay. Đây là nhiệm vụ từng thành viên của cộng đồng dân tộc Việt Nam ta. Từng người phải đứng lên thực hiện bằng được với tất cả tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc, với tất cả ý chí không gì quý hơn độc lập tự do. Không một người Việt Nam nào có thể vin vào bất kỳ lý do gì để thoái thác. Danh dự của dân tộc, sự sống còn và tương lai của đất nước đòi hỏi phải như thế. 
II.Bàn thêm :Thay đổi bằng cải cách hay là bằng bạo lực lật đổ?

Những vấn đề nóng bỏng do thực trạng đất nước gần 4 thập kỷ vừa qua tích tụ lại và những thách thức mới hiện nay dẫn đến đòi hỏi bất khả kháng, đó là phải thay đổi thể chế chính trị hiện hành.
Bằng cách nào? 
Dù có những tình tiết pha trộn hay đan xen nhau như thế nào giữa những cách thực hiện khác nhau, song cuộc sống chỉ có 2 phương thức cơ bản để thay đổi thể chế chính trị hiện hành: (1) cải cách trong hòa bình; hay là (2) dùng bạo lực xóa bỏ chế độ hiện hành. 
Trí tuệ của thế giới đến nay có được, cũng như thực tiễn của lịch sử các quốc gia trên thế giới đã xác nhận: cải cách trong hòa bình và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước là con đường lý tưởng nhất làm nên ở mọi nơi quốc gia hưng thịnh, hạnh phúc, bền vững. Nhìn vào nước ta cũng phải nhận định như vậy.
Thực tiễn lịch sử vài ba thế kỷ nay của các quốc gia từ Đông sang Tây cũng cho thấy: Có nhiều cuộc cách mạng đã xẩy ra là tất yếu và bất khả kháng, để phá vỡ một trật tự xã hội đã bế tắc và không còn lý do để tồn tại. Song bất kể một cuộc cách mạng nào, sau khi phá vỡ được chế độ cũ, nhưng nếu không thành công tiếp theo trong quá trình cải cách và cải cách thường xuyên để phát triển đất nước sau đó, cuối cùng sự nghiệp cách mạng ở đó vẫn đổ vỡ, những lý tưởng tạo dựng nên cuộc cách mạng ấy trở thành không tưởng và cuối cùng là bị phản bội. Hệ quả thường là: Dần dà cách mạng tạo dựng nên một chế độ chính trị bất công mới. Quyền lực lại rơi vào nhóm thống trị mới chứ không phải vào tay nhân dân. Quá trình này tha hóa tiếp, cuối cùng dẫn tới hệ quả đất nước bị nhóm vô lại mới là chính con đẻ của cách mạng thống trị. Tất cả lại tích tụ thuốc nổ cho một cuộc cách mạng mới, bắt đầu một cái vòng luẩn quẩn mới của lịch sử… 
Nguyên nhân cơ bản của sự vận động trên là: Bản chất của cách mạng là bạo lực, tự nó không thể mang lại dân chủ. Chính quyền cách mạng chỉ có thể tồn tại và bảo vệ được bằng chuyên chính. Trong khi đó dân chủ chỉ có thể là thành quả của một thể chế chính trị tiến bộ được từng bước xây dựng nên trong quá trình phát triển của quốc gia. Vì thế, sau cách mạng mà không có một thể chế chính trị có khả năng xây dựng nên dân chủ để phát triển, thì cuối cùng chỉ còn lại bạo lực; mà bạo lực vì sự tồn tại của chính nó thường xuyên đối kháng với dân chủ và phát triển. Chưa nói đến xây dựng dân chủ là một quá trình phấn đấu lâu dài, thường xuyên và gian khổ, nó là thành quả của phát triển; song đến lượt nó, chính dân chủ lại trở thành tiền đề của phát triển, - đây là cái biện chứng cần quan tâm. 
Trên thế giới đến nay có không ít sách báo và công trình nghiên cứu chứng minh sự vận động nói trên của lịch sử. Sự vận động này không phải là đặc tính riêng của các cuộc cách mạng xã hội đã xảy ra trên thế giới. Thật ra, trước đó, sự vận động của các triều đại phong kiến trên thế giới cũng đều đi theo quy luật này: Quy luật sự tha hóa của quyền lực. [2] 
Cái đấu tranh nay là trận cuối cùng (Quốc tế ca) hóa ra lại là cái câu hỏi mà chủ nghĩa cộng sản bỏ qua: Làm sao, sau khi cách mạng thành công trong việc xóa bỏ chế độ cũ, có thể luôn luôn chế ngự được và luôn luôn chiến thắng được quy luật tha hóa của quyền lực? Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy trong quá trình cải cách và thường xuyên cải cách để phát triển đất nước. Tên của câu trả lời này là dân chủ, chứ không phải là chuyên chính vô sản. 
Những lý lẽ xác đáng, cũng như thực trạng đất nước ta hiện nay đều dẫn tới một kết luận duy nhất: Cải cách thể chế chính trị là đòi hỏi tất yếu và là phương án tối ưu nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 
Nói đến mức sát phạt là thế này: Giả định rằng không may đất nước ta bất khả kháng rơi vào một cuộc đấu tranh bạo lực đẫm máu mới, để thay đổi chế độ chính trị hiện nay của đất nước, thì ngay sau đó vẫn phải tìm đường thực hiện một sự nghiệp cải cách duy tân, và phải cải cách thường xuyên, để mang lại cho đất nước sức sống mới, sự phát triển mới. Đấy là chưa nói, nếu lựa chọn con đường bạo lực thì phải đấu tranh bạo lực trong bao nhiêu lâu? cái giá dân tộc ta phải trả? một hiệp đấu tranh bạo lực liệu có xong không? sẽ còn phải làm bao nhiêu hiệp tiếp theo nữa để cho thể chế mới ra đời?... Đã thế, bạo lực gọi bạo lực, cái chế độ mới sẽ được ra đời bằng đấu tranh bạo lực này là con đẻ của bạo lực thì làm sao mang lại hòa bình, trí tuệ và phát triển cho đất nước? v.v... 
Chẳng lẽ đất nước ta gần một thế kỷ vừa qua chưa đủ kịch bản thay đổi chế độ hoặc xây dựng chế độ mới bằng bạo lực để suy ngẫm hay sao?.. 
Nhân đây cũng xin thưa, đấu tranh bạo lực ôn hòa nhất như ở Thái Lan (mà điều này không thể có ở Việt Nam) thì từ năm 1932 đến nay cứ vài năm lại một lần đảo chính, đổ máu không ít... Cho đến hôm nay con đường dân chủ của Thái Lan vẫn còn dài ở phía trước, mặc dù Thái Lan có những bước tiến xa hơn nước ta về dân chủ. Đã thế trên trái đất này không có sự chân không dành riêng cho Việt Nam. Làm gì, nước ta cũng phải tính đến những kẻ đánh hôi, những thế lực đục nước béo cò...
Tôi kết luận dứt khoát cho mình: Để nước ta trở thành một quốc gia phát triển, trước sau không có cách gì trốn được cải cách và cải cách thường xuyên. Nhật và Hàn Quốc hôm nay đều bắt đầu từ cải cách… 
Xin lưu ý: Tấm gương xấu, tấm gương tốt của những biến động quốc gia trên toàn thế giới kể từ khi các nước Liên Xô – Đông Âu cũ sụp đổ cho đến hôm nay mang lại cho chúng ta không ít điều phải ngẫm nghĩ. Chỉ riêng hiện tượng Myanmar và hiện tượng Ukraina đang diễn ra cung cấp cho chúng ta nhiều bài học rất quý báu cho con đường cải cách của đất nước, miễn là dám nhìn thẳng vào sự thật, có trí tuệ nhìn đúng sự thật. 
Còn như, nếu để cho đất nước ta bất khả kháng bị đẩy đến tình trạng xảy ra bạo loạn - giả định như vậy -, thiết nghĩ trước hết (xin nhấn mạnh trước hết) cần xem xét phẩm chất và năng lực của hệ thống chính trị hiện hành. Bởi vì so sánh tương quan lực lượng mọi mặt cho đến thời điểm hiện nay, có thể nhận xét: Tiềm năng và khả năng các lực lượng hay thế lực bên trong / bên ngoài muốn lật đổ chế độ chính trị hiện hành của Việt Nam bằng bạo lực vì bất kỳ lý do gì, đều rất yếu và hầu như không thể làm được, dù họ muốn. Nói như thế, để nhấn mạnh một vế khác quan trọng hơn nhiều: Việt Nam hôm nay có tất cả những điều kiện đủ cho cải cách và cải cách thành công; Việt Nam hôm nay chỉ còn thiếu điều kiện cần là: quyết tâm chính trị của đảng cầm quyền cho cải cách. 
Mặt khác, cả nước phải cảnh giác với hệ lụy có thể của tình huống cái xảy nẩy cái ung. Đất nước gần đây xảy ra nhiều sự việc đau lòng, đó là các sự kiện như vụ Quỳnh Phụ - Thái Bình năm nào… Gần đây là vụ trấn áp Đoàn Văn Vươn, vụ trấn áp tại Văn Giang liên quan đến Eco Park, các vụ nạn nhân bị công an đánh chết trong khi giam giữ dẫn đến phản ứng quyết liệt của dân, các vụ người dân tự thiêu hay tự sát, các vụ bắt bớ đánh đập những người yêu nước biểu tình bầy tỏ ý chí bảo vệ biển đảo và chủ quyền quốc gia, vụ Nguyễn Phương Uyên, vân vân… 
Vâng, giả định trong những vụ việc như vậy nếu lỡ tay để xảy ra sự cố không kiểm soát được – ví dụ như để xảy ra đổ máu lớn -, ai dám đoán trước những diễn biến tiếp theo, quy mô và hệ lụy của chúng? Chưa nói đến những sự cố không kiểm soát được kèm theo phản ứng bầy đàn nếu để xảy ra trong những khó khăn kinh tế của đất nước, trong thiên tai, dịch bệnh, trong một biến cố chính trị / kinh tế nào đó của khu vực hay trên thế giới, trong những thách thức mới phi truyền thống chưa ai lường được… vân vân. 
Nêu lên những điều vừa nói trên, tôi muốn đặc biệt lưu ý: nguy cơ để xảy ra bạo loạn đang tiềm tàng nhiều hơn trong những hệ quả của những sai lầm, yếu kém và sự tha hóa phẩm chất của hệ thống chính trị - trong đó trước hết là của đảng nắm quyền gây nên. Nhìn sự việc với tin thần tiên trách kỷ, hậu trách nhân là thế. 
Trong đời sống hàng ngày hiện nay, sự hoạt động đang diễn ra của đội ngũ dư luận viên đang từng giờ từng phút bóp méo sự thật, làm tha hóa hệ thống chính trị, làm tê liệt nghiêm trọng khả năng của đất nước đề kháng nguy cơ bạo loạn… Mọi dối trá như thế rõ ràng chỉ gây thêm những khó khăn mới cho đất nước và đều có cái giá phải trả. Mọi sự trấn áp khác theo khuynh hướng này cũng vậy. Có thể xem đây là một trong nhiều ví dụ về nhân – quả đòi hỏi phải được nhìn nhận với tinh thần tiên trách kỷ hậu trách nhân. 
Còn một lẽ nữa, muốn kiên định con đường cải cách chính trị, cần phải tăng cường khả năng của nhân dân cả nước chủ động đề kháng đối với nguy cơ để xảy ra bạo loạn - nhưng không phải bằng kìm kẹp, trấn áp hay nói dối dân nhân danh giữ vững ổn định, mà phải bằng cách nói thật, tin vào dân, dựa vào dân trong mọi tình huống, nghe dân nói, trang bị cho dân mọi thông tin, hiểu biết và khả năng bảo vệ lẽ phải, làm cho dân tự giác chủ động loại bỏ nguy cơ này. Để làm được như thế, chung quy chế độ phải phấn đấu để thực sự là của dân, dám dựa vào dân. 
Nói một cách trần trụi, chừng nào còn nói dối dân và không đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, chừng đó không có cải cách. Cải cách phải bắt đầu từ nói thật và yêu mước. Không có điều kiện tiên quyết này đừng nghĩ đến cải cách. Đương nhiên, cải cách còn đòi hỏi nhiều điều kiện khác nữa.

III- Vị thế của ĐCSVN  trong cải cách
Sự lựa chọn của tôi: Dành cho ĐCSVN giữ vai trò quyết định, ngoại trừ trường hợp những người nắm quyền lực trong ĐCSVN hiện nay chủ trương chống lại cải cách và đối kháng lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc.
Sự lựa chọn này của tôi trước hết căn cứ vào nghĩa vụ và món nợ lịch sử ĐCSVN đã cam kết với nhân dân, với tổ quốc và bây giờ nhất thiết phải trang trải. 
Sự lựa chọn này của tôi xuất phát từ lòng tin trong ĐCSVN vẫn còn nhiều đảng viên có lương tri, có trí tuệ và tâm huyết với đất nước, mặc dù họ đang bị hệ thống bộ máy đảng kìm kẹp, đang bị nhiều áp lực khác trong thể chế chính trị cũng như trong đời sống hàng ngày làm cho vô hiệu hóa, hay làm cho câm lặng. Khi có điều kiện, những đảng viên này chắc chắn sẽ xả mình vì nước. Hơn nữa, về mặt nào đó mà xét, số đảng viên tha hóa biến chất, ngoan cố chống lại lợi ích của đất nước cũng như lợi ích chính đáng của chính bản thân ĐCSVN chỉ là thiểu số, cho dù họ là những người chi phối quyền lực. Nếu có thảo luận dân chủ và công khai trong đảng, chắc chắn chính nghĩa và sự thật sẽ thắng ngay trong nội bộ ĐCSVN.
Sự lựa chọn này của tôi dựa trên nhận định: Nếu những người có thực quyền trong đảng chủ trương thảo luận dân chủ và thẳng thắn trong nội bộ đảng như thời đại hội VI về thực trạng đất nước hiện nay và tìm lối ra, hoặc là nhiều đảng viên lên tiếng yêu cầu lãnh đạo và các tổ chức của đảng phải tổ chức cuộc thảo luận này, tôi tin rằng sự thật sẽ được nhận diện, hầu như chắc chắn sẽ có tiếng nói quyết định phải tiến hành cải cách chính trị để cứu nguy đất nước. 
Nhận định như vậy, bởi vì tôi đã được nói chuyện với nhiều đảng viên tâm huyết như thế, kẻ đã về hưu, người đang tại chức. Chúng tôi hầu như thống nhất với nhau cách suy nghĩ này. Thậm chí có một đảng viên tại chức, thuộc loại rất cao cấp, nói với tôi: “Anh Trung ạ, để cải cách, cái đảng ta cần nhất bây giờ là thực hiện dân chủ ngay trong đảng!..” Tôi thừa nhận đảng viên ấy đúng. Phần nào hiểu được sự vận động của đảng trong cuộc sống, trong lòng tôi ước ao lúc nào đó bàn về đổi mới ĐCSVN, sẽ có ai đó đưa ra đề nghị nhìn nhận lại lịch sử mất dân chủ trầm trọng diễn ra trong nội bộ đảng. Việc này cần làm để lấy lại sức chiến đấu của đảng.
Sự lựa chọn này của tôi dựa trên tinh thần khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, thực hiện dân chủ để đoàn kết và hòa giải dân tộc; mọi người và mọi lực lượng chính trị của đất nước đều phải mang hết sức mình cống hiến cho sự nghiệp cải cách để phát triển đất nước. Có thể nói đây là nguyện vọng cháy bỏng của hầu hết những người Việt Nam có hiểu biết và quan tâm đến vận mệnh của đất nước, dù là sống trong nước hay ở nước ngoài. Gặp gỡ những người này, ai cũng nói rằng tối ưu với đất nước ta là từ chỗ đứng hiện nay, chắt chiu tất cả những gì đã làm được, thông qua cải cách chính trị để tìm đường cho đất nước đi tiếp, sẵn sàng khép lại quá khứ để đi tiếp. Đừng xóa đi làm lại từ đầu. Đừng phải đổ thêm máu nữa, bốn cuộc chiến tranh trong một nửa thế kỷ đối với đất nước ta là quá nhiều rồi!... 
Quan trọng hơn nữa, tìm được mục tiêu của cải cách sao cho trong cải cách cũng như trong thành quả đạt được từng người dân yêu nước ai cũng thấy được mình. Một sự nghiệp cải cách như thế chẳng lẽ là không đáng? Một sự nghiệp cải cách như thế lý gì không thể thành công? Vì thế, dân chủ, đoàn kết, hòa giải dân tộc… không phải là những khái niệm trừu tượng, mà phải là những gì thấy được, cảm nhận được ngay trong quá trình tiến hành cải cách và trong mục tiêu đạt được.
Tóm lại, tình thế đất nước lựa chọn đảng cần chủ động đứng ra vận động cả nước tiến hành cải cách, giữ vai trò quyết định trong cuộc vận động này, dù rằng đảng phải phấn đấu rất quyết liệt mới có thể có được phẩm chất đảm nhận trách nhiệm này. Tôi lựa chọn như thế cho đảng. 
Vâng, sự lựa chọn như vậy có thể là cuộc mạo hiểm cuối cùng của tôi. Vì ở tuổi tôi, ai mà biết được trò chơi của tạo hóa? Tôi không còn nhiều thời gian cho những hoài bão khác. Bây giờ làm được việc nào, biết chắc việc nấy.
Coi sự lựa chọn này là một mạo hiểm, vì đây là một lựa chọn rất khó đối với tôi: Cải cách sẽ phải đương đầu quyết liệt với quyền lực và đối mặt với không biết bao nhiêu vấn đề nan giải, đòi hỏi trí tuệ và nghị lực nhiều hơn là đấu tranh bằng bạo lực. Rồi còn những diễn biến không dễ chế ngự… Tôi không dám nói mình đã lường được mọi sự… Song có thể nói, tôi đang dành tất cả những gì mình nghĩ được cho cuộc mạo hiểm này. Vì đấy là ý nghĩ nung nấu trong tôi mấy thập kỷ nay: Phải đi theo con đường cải cách, còn nước còn tát! 
Còn một lý do nữa, có lẽ là quan trọng nhất: Tôi lựa chọn cải cách, vì cái thiện trong cuộc sống, dù bị băm vằm như thế nào, vẫn là bất diệt, vẫn là bất khả kháng. 
Hàng ngày, đi đâu hoặc lật trang báo, không ít thì nhiều tôi đụng phải những chuyện tím ruột tím gan. Vài tháng trước đây là những chuyện đại loại như dư luận viên dọa mất sổ hưu. Cách đây vài ngày là chuyện tổ chức nhảy đầm tại vườn hoa Lý Thái Tổ để phá rối những người biểu tình tưởng nhớ những hy sinh mất mát trong cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, trong khi đó dư luận viên xa xả mắng những người đi biểu tình: Các người kích động chống Trung Quốc, sẽ không có hàng nhập khẩu, để kinh tế nước ta chóng sụp đổ, để các người dễ bề lật đổ chế độ có phải không?!.. Mới hôm qua thôi, một bạn già lão thành cách mạng của tôi có giấy của cơ quan đảng cấp trên đòi phải làm kiểm điểm về tội viết những bài được cho là chống đảng, và phải tự định mức kỷ luật trước đảng. Bạn của tôi bác lại, nói thẳng đảng này không phải là đảng ông giơ tay tuyên thệ khi gia nhập cách đây hơn một nửa thế kỷ!.. Cuộc sống còn vô vàn chuyện đau lòng khác nữa, những vụ tham nhũng động trời, những tội ác hình sự man rợ trong xã hội ngày càng nhiều… 
Nhưng đi đến đâu tôi đồng thời cũng gặp không ít cái thiện đang lặng lẽ, bền bỉ dung dưỡng cuộc sống này, duy trì sự tồn tại của đất nước này – những nỗ lực im hơi lặng tiếng không cần ai biết đến của người dân, của người cán bộ, của đảng viên… Họ là số đông trong cuộc sống này. Tôi có cảm tưởng cuộc sống ác nghiệt này chẳng làm gì được họ!.. Trong tôi càng khao khát mong sao cái thiện âm thầm này phải sớm trở thành dòng chảy chính xoay chuyển cục diện đất nước, đưa đất nước sang trang mới. 
Song đặt hy vọng bao nhiêu vào cải cách chính trị, tôi vẫn phải cảnh báo quyết liệt bấy nhiêu về cái mặt cố hữu cực kỳ nham hiểm và phản động của quyền lực. Cảnh báo chính mình và mọi người. Cải cách không dễ như chúng ta muốn. Quyền lực thường vô cảm với lẽ phải và không dễ nhường bước, mà thường là không tự giác nhường bước cho cải cách như chúng ta mong đợi. Thậm chí cải cách cũng phải đứng lên mà giành lấy, mà thực hiện. Dẫn chứng là gần ba thập kỷ đã qua kể từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1986, nhưng đến nay cải cách chính trị vẫn bị trì hoãn; đời sống chính trị trong nước cũng như của đảng nhiệm kỳ khóa đại hội XI hiện nay có nhiều bước thụt lùi hay xuống cấp nghiêm trọng so với khóa đại hội X, đại hội IX… Chưa nói đến, mọi vấn đề trong cuộc sống hiện nay của đất nước phải giải quyết đều vô cùng khó khăn phức tạp. Có những việc trong tình hình bình thường phải thận trọng một, trong khi tiến hành cải cách thì phải thận trọng hai, ba… Chúng ta không được lựa chọn, mà cuộc sống đưa ra đòi hỏi như thế. 
Có câu hỏi: Đã thế, tại sao lại cứ phải dành cho ĐCSVN vai trò quyết định trong cuộc cải cách này?
Xin thưa: 
Trước hết, đó là sự lựa chọn của tôi. Sau nữa, suy nghĩ nhiều mặt, tôi thấy cũng nên như vậy.
Trí tuệ thế giới đã tổng kết từ lâu rồi: Cải cách chính trị duy tân đất nước tiến hành từ trên xuống – nghĩa là từ giới cầm quyền, thậm chí từ cấp cao nhất của giới cầm quyền – thường là phương án tối ưu nhất. [đã là "tối ưu" có nghĩa là "nhất" rồi, đây là một sai lầm phổ biến trong sử dụng thuật ngữ này, nhưng một nhà ngoại giao kỳ cựu thì không được phép mắc lỗi này ông cựu Đại sứ ạ. Xin mạn phép nói với ông bạn thân quí‎ của tôi như vậy.TL]
Ngay ở nước ta, áp lực của đổi mới để xóa bỏ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp đến từ nhân dân, từ cuộc sống. Quá trình này lên bờ xuống ruộng hàng chục năm, với nhiều tổn thất cay đắng. Song chỉ một khi đổi mới trở thành quyết định của đại hội VI, bởi vì áp lực này không thể cưỡng lại được nữa, đổi mới đã thành công ngoạn mục. 
Ai được gì, ai mất gì trong đổi mới vừa qua, đó là điều cả nước nên suy ngẫm, trước hết là ĐCSVN và các đảng viên. Có lẽ cũng nên đặt ra câu hỏi: Nếu không có đổi mới vừa qua, ĐCSVN hôm nay có còn không?.. 
Bây giờ, với tính cách là đảng duy nhất nắm quyền, nếu ĐCSVN chủ động đứng ra đảm nhận vai trò quyết định trong cải cách chính trị, xin hỏi còn gì đáng mong muốn hơn cho đất nước chúng ta trong điều kiện hiện nay? 
Trong một kịch bản như thế, cải cách hầu như chắc chắn thành công. Thử hỏi, qua đó vị thế của ĐCSVN trong xã hội Việt Nam cũng như trong cộng đồng thế giới rồi đây sẽ như thế nào? Một Việt Nam thông qua cải cách để phát triển và đứng vững được trên đôi chân của mình sẽ được thiên hạ rồi đây đối xử ra sao? Có phải quỵ lụy và leo dây như hiện nay không?.. 
Song chẳng lẽ chỉ vì quyền lực trong đảng muốn ĐCSVN độc quyền nắm quyền, nhân danh bảo vệ chế độ của đảng và con đường định hướng xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng biến ĐCSVN thành trở lực số một của cải cách, thế là toàn thể đảng viên đành cam chịu, và cả đất nước này cũng đành cam chịu?.. Rồi tình trạng cam chịu như thế sẽ trụ được bao lâu?.. Tất cả các đảng viên cần thẳng thắn với câu hỏi này và có ý kiến của mình.
Như đã nói trên, trách nhiệm lịch sử, và cũng là nghĩa vụ ràng buộc phải trang trải nữa, đặt ĐCSVN vào vị thế phải chủ động nắm lấy vai trò quyết định trong sự nghiệp cải cách duy tân đất nước hiện nay. ĐCSVN hoàn toàn có thể làm được như vậy và thành công. Bởi vì ĐCSVN có bề dầy lịch sử và có lịch sử là người thầy luôn luôn cho đảng những bài học trung thực đáng học, lịch sử chứ không phải bất kỳ thứ chủ nghĩa nào. Cái gì chưa biết, lịch sử sẽ dậy. Cái gì quên, lịch sử nhắc nhở - mà lịch sử chẳng bao giờ quên điều gì. Nhưng trốn tránh lịch sử, sẽ phải trả giá. Nếu phản lại lịch sử, sớm muộn không tránh khỏi bị trừng phạt. 
Nếu yêu nước, yêu dân, ĐCSVN nên coi việc nắm lấy vai trò quyết định này trong cải cách là cơ hội trả nợ ơn nghĩa sâu nặng của nhân dân, và qua đó tự đổi đời được chính mình. 
Chữ tín các thế hệ tiền bối của đảng đã xây dựng nên nhưng thế hệ hiện nay hủy hoại, nắm lấy cơ hội này ĐCSVN hôm nay sẽ lấy lại được, sẽ làm lại được tất cả và tự mở ra cho mình con đường mãi mãi cùng đi với nhân dân. 
Nếu ĐCSVN hôm nay không chủ động tiến hành cải cách, hoặc nếu không bằng mọi cách vận động được ĐCSVN hôm nay tham gia cải cách, khả năng cải cách trong hòa bình và ổn định hầu như không hiện thực. Đơn giản là quyền lực nếu không lựa chọn tự hành động trên con đường cải cách, nó chỉ còn lại khuynh hướng luôn luôn huy động bạo lực để tự vệ. Như thế xung đột xã hội chắc chắn xảy ra. Nếu kịch bản này xảy ra, sẽ rất nhiều đau khổ cho đất nước, nghĩa là cái gì phải đến sẽ đến. Điều này càng làm rõ: Chủ động tiến hành cải cách là phương án tối ưu nhất cho đất nước và cho mọi bên hữu quan, trong đó thực hiện dân chủ để khép lại quá khứ theo tinh thần đoàn kết hòa giải dân tộc là chìa khóa. 
Thảo luận công khai trong đảng và trong cả nước, chắc chắn lẽ phải sẽ thắng, làm nên cái được chung rất lớn cho cải cách, đồng thời giảm thiểu được cái giá phải trả của tất cả các bên hữu quan. 
Vai trò quyết định ở đây dành cho ĐCSVN trước hết được hiểu là: Đảng dựa vào ý chí và nguyện vọng của nhân dân chủ xướng cải cách, huy động mọi trí tuệ và thúc đẩy mọi nỗ lực của nhân dân cả nước cho tiến hành cải cách, giữ gìn cho cải cách được tiến hành trong hòa bình, trật tự và ổn định. Thật ra nội dung này chính là những việc chính quyền của tổng thống Thein Sein – Myanmar kể từ khi lên cầm quyền đã và đang thực hiện trong một kế hoạch tổng thể, với các thời gian biểu được tính toán cẩn trọng cho từng bước đi nhỏ trong những lĩnh vực khác nhau.[3] Cũng phải nói thêm, dân trí và chất lượng áp lực đòi hỏi cải cách đến đâu, thành quả đạt được đến đấy, chẳng có cái gì được thiện chí cho không hoặc tự rụng xuống từ trên trời. Sự chủ động tiến hành cải cách của chính quyền Thein Sein đã kết thúc được trong hòa bình chế độ quân phiệt 20 năm đẫm máu ở Myanmar, đột phá được những bước cải cách đầu tiên ngoạn mục trên con đường trường chinh vạn dặm vì dân chủ và phát triển. 
Một khi ĐCSVN dứt khoát khước từ vai trò quyết định lẽ ra cần nắm lấy này, đương nhiên đảng sẽ tự diễn biến mình từ đảng tiền phong chiến đấu (như ghi trong cương lĩnh) trở thành một lực lượng chính trị lớn nhất hiện nay độc quyền cai trị đất nước. Một khi đảng chỉ còn là một lực lượng chính trị như thế, hiện tượng này tự nó sẽ dấy lên trong xã hội những lực lượng đối kháng. Đảng đã chẳng từng dậy cho đảng viên của mình “có áp bức thì có đấu tranh chống áp bức” là gì!? 
Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cũng đang cho thấy: Vai trò lãnh đạo của đảng càng bị diễn biến và thay thế bằng cai trị bao nhiêu, thì quá trình phân hóa xã hội nước ta thành các lực lượng đối kháng khác nhau càng trở nên quyết liệt bấy nhiêu. Con đường dẫn tới các cuộc bể dâu vừa qua ở các nước Bắc Phi và một số nước khác chính là con đường đi qua cuộc sống hàng ngày như vậy đó. Cho nên, cải cách chính trị thật sự là con đường sống của đảng. Cứ đem ra thảo luận thẳng thắn trong đảng điều này, đúng sai sẽ vỡ nhẽ.
Hỏi: Đảng muốn cải cách lắm, nhưng vì sinh sôi nhiều dây mơ rễ má quá, đa mang đèo bòng nhiều quá, bây giờ có muốn cũng không làm nổi thì sao? 
Đáp: Thì dân giúp đảng, giúp được đấy. Giúp cho đến khi thành công mới thôi. Kể từ khi thành lập năm 1930 dân đã chẳng bao phen cứu sống đảng là gì?! Chẳng những cứu, mà không dưới một lần còn đem xương máu mình ra bảo vệ nữa!.. Lần gần đây nhất dân cứu sống đảng là công cuộc đổi mới thời đại hội VI. Ngày nay, đảng còn muốn đi với dân, thì dân còn cứu được. Dựa vào dân, đảng cũng sẽ tự cải tạo được chính mình. 
Hỏi: Giả định rằng dành cho vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định như thế trong tiến hành cải cách, nhưng nếu ĐCSVN hôm nay trước sau không muốn nhận, lần này quyết không nhận và chống lại thì làm sao? 
Đáp: Hỏi như thế, cũng có nghĩa câu trả lời đã rõ ràng. Người Việt nào không thuộc câu nói của Nguyễn Trãi?
Lời kết: Công dã tràng?
Đã bao nhiêu lần tôi nói, viết góp ý cho các đại hội đảng, nhưng công cốc, không bao giờ có hồi âm. Các bài viết khác, các thư riêng về vấn đề này vấn đề nọ cũng vậy. 
Nhưng không sao. Nước Việt Nam chúng ta là của tất cả mọi người Việt Nam chúng ta, lo gì. Ai đó trong đảng không muốn nghe, không muốn đọc, thì người Việt Nam khác nghe, người Việt Nam khác đọc, trong đảng hoặc ngoài đảng. Lẽ phải cần phải được chia sẻ, kiểm định. Sự lựa chọn của tôi như đã trình bày trong bài này có thể đúng, có thể sai, có những điểm đúng, có những điểm sai…Thiết nghĩ trao đổi với nhau như thế, sẽ càng nhiều người quan tâm, suy nghĩ về vận mệnh của đất nước, chúng ta sẽ càng rộng đường dư luận... Như thế, các ý kiến sẽ ngày càng được gạn đục khơi trong, và càng trở nên đúng đắn hơn. Thời gian quý vô giá, mỗi ngày chúng ta cố trao đổi với nhau một thông tin, một ý kiến, chí ít là góp vào thôi thúc sự quan tâm đến vận mệnh đất nước… Được như thế, âu cũng là sự chuẩn bị thiết thực cho thái độ của chúng ta đối với những gì xảy ra, sẽ xảy ra. Nghĩ như vậy tôi không nản lòng, mà chỉ lo ý kiến của mình còn nghèo nàn.
Tôi cố không nuối tiếc công dạ tràng. 
Hà Nội ngày 25-02-2014

Bài 3 (kế tiếp): “Vượt qua khúc quanh của lịch sử
______________________
[1] viet-studies.info 12-02-2014, được bổ sung ngày 17-02-2014: http://viet-studies.info/NguyenTrung/NguyenTrung_ChuTin.htm  http://nguyentrung-vt.blogspot.com
[2] Cuốn sách đã dịch sang tiếng Việt rất đáng tham khảo gần đây cho chủ đề này là cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại – nguồn gốc của quyền lực, sự thịnh vượng và nghèo khó” của Daron Acemoglu và James A. Robinson, NXB TRẺ, TPHCM 2013.



BÀI 3
Vượt lên khúc quanh của lịch sử
 I – Nhận diện khúc quanh của lịch sử
           Lịch sử không thể làm lại, không có chữ “nếu”, song luôn luôn là người thầy trung thực và nghiêm khắc. Con đường đất nước ta đã trải qua kể từ Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến nay đặt ra nhiều vấn đề hệ trọng quá, chưa được nghiên cứu một cách khách quan và nghiêm túc để rút ra những kết luận cần thiết cho đất nước ta hôm nay và trong tương lai. Công việc này trước hết là món nợ lớn của giới sử gia nước ta. Song cũng nên coi đây là món nợ lớn của mỗi người dân ta quan tâm đến vận mệnh đất nước.
          Trong khi đó cuộc sống cứ diễn tiến theo nhịp điệu riêng của nó, không thèm chờ đợi, vô luận chúng ta có rút ra được cái gì từ những bài học của lịch sử phải học hay không. Mặt khác, trong dư luận có bao nhiêu vấn đề nghiên cứu được đặt ra, thì trong tranh luận có bằng nấy vấn đề được nhìn nhận với những lý lẽ và kết luận trái ngược nhau, phủ định nhau. Ví dụ, đã có những ý kiến đặt ra những câu hỏi: Cuộc kháng chiến chống Mỹ có nhất thiết phải kéo dài và quyết liệt như thế hay không? Có con đường nào khác đã bị bỏ qua trong việc thống nhất Bắc-Nam? Vân vân…
           Xin khất lại cho cả nước món nợ nghiên cứu lịch sử chưa trang trải được mà nó nhất thiết cần sớm được trang trải. Chỉ xin nêu lên ở đây, khi kiến nghị với cả nước nên lựa chọn con đường cải cách để đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng hiện nay và mở ra một trang sử mới – như đã trình bày trong loạt bài chữ tín này, tôi vấp phải một thực tế đau đầu:
 Nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ, tôi đã đi tới kết luận  cuộc chiến tranh này mang trong lòng nó 6 cuộc chiến tranh khác[1]. Trong đó tôi rút ra một điều: Hệ quả của một số trong những cuộc chiến tranh này là nước ta đã trở thành trận địa nước thứ ba cho cuộc chiến tranh gián tiếp giữa một số nước lớn giành giật ảnh hưởng lẫn nhau. Đến nay, mới chưa đầy 4 thập kỷ trôi qua và chưa có được hòa bình trọn vẹn, thế nhưng cục diện châu Á – Thái Bình Dương hiện nay lại đang một lần nữa lăm le đẩy nước ta vào cái kịch bản mớitrận địa nước thứ ba! Số phận của nước ta chẳng lẽ oan nghiệt đến vậy sao? Có phải trời đầy đọa nước ta không? Nước ta đã sẵn sàng mọi mặt chống lại một tai ương mới đang lù lù trước mắt này? Mấy ngày nay đang nóng lên câu chuyện Ukraina...
          Nước ta có nhất thiết phải hứng chịu số phận nêu trên không? Đương đầu với nó như thế nào? Cứ èo uột leo dây như thế này liệu có thoát được số phận này không? Tại sao trên thế giới có không ít quốc gia cũng rơi vào các tọa độ nóng chẳng kém gì như của nước ta hay còn nóng hơn nữa, thế mà họ lại dám không cam chịu số phận đen ngòm này, họ thắng được số phận đen ngòm này? Thậm chí có khi thiên hạ còn phải cầu cạnh họ, ví dụ như Thụy Sỹ... Vì sao vậy?..   
          Cuộc sống dạy cho tôi đủ hiểu: Đi ăn xin thì bao giờ và mãi mãi vẫn chỉ là thằng ăn xin!
          Câu hỏi lại đẩy tôi đến câu hỏi: Lực èo uột, sống phải leo dây như thế này liệu có dám cứng đầu với số phận không?– Cứng đầu ở đây là giữ được phẩm chất ta là ta, không đánh mất ta, không phải cầu xin cái này cái nọ, song cũng không phải là gây gổ. Cứng đầu ở đây là có đủ những điều kiện và tố chất khiến thiên hạ phải tôn trọng ta, thậm chí ta có thể góp một tay vào hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực. 
          Lấy đâu ra lực phải có để dám cứng đầu như thế với cái số phận đen ngòm này? Hàn Quốc, với xuất phát điểm GDP per capita là 82 USD vào những năm 1950s, chỉ cần 3 thập kỷ sau đó (những năm của thập kỷ 1980s) với mọi nguồn lực huy động được chỉ bằng một nửa nguồn lực nước ta có được cũng trong vòng 30 năm, nhưng Hàn Quốc trở thành nước công nghiệp, còn nước ta hôm nay vẫn đứng rất xa cột mốc này. Làm ăn ươn hèn như thế, số phận đen ngòm này của ta là đích đáng, có phải thế không? 
          Đúng là đau như cắt để tự hỏi như thế. 
          Càng ngày đất nước ta đang càng rơi sâu vào một khúc quanh mới của lịch sử:  Từ là trận địa nước bên thứ ba thời chiến tranh lạnh hôm qua, nước Việt Nam ta hôm nay – do kiên trì kéo dài mãi sự hèn kém của mình như thế này – chắc lại đang tự trói chân tay mình, sẽ đành chờ cam chịu giao nộp mình cho số phận trận địa nước bên thứ ba của cục diện mới tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương!? Một Việt Nam giầu mạnh, có bản lĩnh đâu chịu dồn ép mình vào số phận này?

Chẳng lẽ phải chịu bao nhiêu hy sinh xương máu của bốn cuộc chiến tranh chống xâm lược trong gần hết nửa sau của thế kỷ vừa qua chỉ là để hôm nay đi tiếp trên con đường đang dẫn tới cái số phận đen ngòm mới phía trước hay sao? Hay là niềm tự hào đã đánh thắng được những đế quốc to đang che lấp mất cái số phận đen ngòm mới phía trước đang lăm le hăm dọa đất nước?   
          Thời chiến tranh lạnh, nước ta có mời gọi ai đến tranh giành nhau trên đất nước ta đâu, nhưng họ vẫn cứ đến và làm khổ nước ta, không dưới một lần bán đứng nước ta trong chuyện này chuyện nọ, làm cho hai cuộc kháng chiến đầu của nước ta đã khốc liệt càng thêm phần khốc liệt. Ngày nay cũng thế, nước ta không thể kêu gọi Trung Quốc đừng lấn xuống Biển Đông, cũng như không thể đề nghị Mỹ thôi cái “pivot to the Asia-Pacific” đi, để nước ta được yên thân. Làm gì có chuyện đó! Ta có quỳ xin, họ cũng chẳng nghe đâu, họ có việc của họ. Ta cũng không thể bê nước mình đến một địa danh mới được. Mà còn phải leo dây, thì ta còn được bán tiếp. 
Thế giới ngày nay, một cường quốc vác quân đi xâm lược một nước khác khó lắm. Song thế giới ngày nay có thêm vô vàn thủ đoạn mới và phương tiện mới để khuất phục đối thủ, cái yếu luôn luôn phải trả giá. Kinh nghiệm mấy chục năm độc lập thống nhất dạy nước ta như thế. 
Sự tụt hậu đáng sợ so với thế giới bên ngoài mà đất nước đang phải đối mặt, những yếu kém quá nhạy cảm của nền kinh tế còn đang thiếu đối sách, sự chênh lệch quá lớn về thực lực so với đối thủ, sự yếu kém của chế độ chính trị, sự phân tán trong lòng dân đối với chế độ, sự xuống cấp các mặt văn hóa – xã hội chưa từng có, khả năng tập hợp mặt trận rất hạn chế vì nước ta đang có nhiều cái lạc lõng trong trào lưu chung của thế giới, tình hình trong khu vực lại có không ít những vấn đề phức tạp… Tất cả những thứ yếu kém này đang dồn nước ta vào thế quốc gia leo dây, cái “sự cân bằng” đang có được nhờ sách lược chẳng bao giờ  bền vững, và trên thực tế không ít thì nhiều đã phải trả giá!..  Trong bối cảnh như thế, nếu sức vươn lên của cả dân tộc cứ bị trói chân trói tay mãi như thế này, liệu có thể đương đầu thắng lợi với cái số phận đen ngòm đang lù lù phía trước được không? Trong khi đó sau cái ADIZ ở biển Hoa Đông là cái ADIZ ở Biển Đông đang lấp ló. Ukraina nóng bỏng đang tạo ra nguy cơ xung đột mới. Trong cái thế giới là cái bình thông nhau này, chẳng có chỗ nào chân không, vùng nóng nơi này mở thêm vùng trống nơi kia, nạn nhân luôn luôn là các nước “bên thứ ba”. Những chuyện tiếp theo khác chỉ là chuyện ngày giờ… Mà thân phận nước ta, ta phải giữ, gửi gắm cho ai được? Nếu ta không dám là chính ta thì làm sao có thể mong đợi sự hậu thuẫn từ bạn bè trên thế giới được?.. 
          Vậy chỉ còn mỗi con đường: Nếu muốn cưỡng lại cái số phận đen ngòm đang cứ tái đi tái lại này, phải nhận diện cho ra khúc quanh của lịch sử để tìm lối thoát. 
          Nhân đây tôi xin nói một nhận định để tính toán : 
          Việt Nam không phải là một nước yếu. Xưa nay thế, bây giờ thế, trong tương lai cũng sẽ như thế: Không một kẻ xâm lược nào có thể khuất phục được Việt Nam. Điều này chắc như đinh đóng cột. Nhưng Việt Nam hiện nay chưa đủ mạnh để bứt ra khỏi khúc quanh oan nghiệt của lich sử. Vì lẽ này Việt Nam chưa mang lại được cho chính mình sự phát triển đáng có và hoàn toàn có thế có được. Vì lẽ này Việt Nam chưa làm tốt nghĩa vụ của mình là một thành viên tích cực đối với cộng đồng thế giới đúng với vị thế mà địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế và địa lý chính trị của thế giới trao cho Việt Nam. Song đây chỉ là câu chuyện của thời gian. Người viết những dòng chữ này có niềm tin sắt đá: Đây hoàn toàn chỉ là câu chuyện của thời gian, vì không ai có thể bắt dân tộc này ngủ.
  
II – Xu hướng đẩy đất nước ngày càng chìm sâu vào khúc quanh của lịch sử
         Trong lịch sử cận đại của nước ta, dù mỗi thời một thế, song khúc quanh của lịch sử trình bày trên có thể được xem như một dạng tái bản khúc quanh của lịch sử khi nước ta rơi vào tay chủ nghĩa thực dân Pháp vào đúng giai đoạn Việt Nam độc lập, phát triển và trở nên hoàn chỉnh nhất như cho đến hôm nay kể từ thời Gia Long. Đừng đổ lỗi cho tinh thần yêu nước của các triều đại thời Gia Long kém thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, mà phải nhìn thấy cái lỗi nằm ở chỗ nước ta hồi ấy tụt hậu mất một giai đoạn phát triển; và chính điều này hôm nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. 
Lịch sử không lặp lại, nhưng sự tái diễn với phiên bản mới, vòng xoáy ốc mới của một kịch bản đã xảy ra một mặt nói lên sự trừng phạt nghiêm khắc cho việc mù tịt hay trốn tránh những bài học của lịch sử. Mặt khác sự tái diễn này cho thấy mức độ phức tạp hơn rất nhiều của những vấn đề phải giải quyết hôm nay. Bây giờ đâu đâu tại các quốc gia có ý thức trên thế giới này cũng bức thiết khẩu hiệu: Thay đổi hay là chết! Còn ở ta: Kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa hay là chết?
           Đã đến lúc phải tự hỏi: Việt Nam độc lập thống nhất từ 30-04-1975 ứng xử như thế nào với cái thế giới nó đang sống?  (Mọi chuyện trước 30-04-1975 xin tạm gác lại một bên sẽ  bàn sau này khi có dịp). 
          Trong những lần góp ý kiến với các đại hội đảng IX, X và XI tôi đã trình bày một đánh giá chung, đại ý: Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc kể từ sau 30-04-1975, đường lối của đảng có nhiều sai lầm cơ bản, nguyên nhân chính là không hiểu hết ta, không hiểu đúng thế giới, định hướng sai, khiến cho thành quả đạt được không ngang xứng với nguồn lực và công sức đã bỏ ra, nhiều cơ hội lớn bị bỏ lỡ, đất nước gặp nhiều khó khăn mới. 
Trong bài chữ tín (bài 1), tôi đã một lần nữa trình bày khái quát đánh giá chung này, nêu lên nguy cơ: sự kìm hãm nặng nề của thể chế chính trị có thể làm bế tắc việc mở ra cho đất nước một thời kỳ phát triển mới.
           Cũng trong những đóng góp ý kiến với đảng nhân các dịp khác nhau, tôi đã trình bày từ 30-04-1975 lãnh đạo đã bỏ lỡ mất bốn cơ hội lịch sử: 
1.  Cơ hội thực hiện hòa giải đoàn kết dân tộc, đưa nước ta đi lên con đường dân tộc - dân chủ ngay sau 30-04-1945, hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.
2.  Cơ hội lựa chọn con đường độc lập - dân tộc - dân chủ khi các nước LXĐÂ cũ sụp đổ (1989 – 1991), để từ đây nước ta cùng đi được với cả thế giới, xây dựng vị thế quốc tế mới cho quốc gia, không phải đi theo một bên nào. – nhưng tiếc thay lãnh đạo lại lựa chọn con đường quay về Thành Đô để bảo tồn chế độ xã hội chủ nghĩa.
3.  Cơ hội khoảng nửa đầu thập kỷ 1990 đẩy nhanh quá trình gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập WTO trước Trung Quốc, để đất nước phát triển nhanh và mau chóng thoát khỏi hay giảm bớt sức ép của Trung Quốc.
4.  Cơ hội sửa đổi hiến pháp năm 2013 để cải cách thể chế chính trị của đất nước trong hòa bình, ổn định, đưa đất nước sớm ra khỏi khủng hoảng hiện nay và mở đường đi vào giai đoạn phát triển mới. 
          Cả bốn lần mất cơ hội lớn đều chung một nguyên nhân sâu xa: Sợ mất chế độ, thực ra là sợ đảng bị lọai bỏ, chưa có tầm nhìn thấu đáo về lợi ích quốc gia trong bối cảnh tương quan lực lượng trên toàn thế giới luôn luôn thay đổi. Trong một giai đoạn ban đầu sau 30-04-1975 và ở chừng mực nhất định, nguyên nhân này có thể là hệ quả của tư duy ý thức hệ sai lầm. Song càng ngày ý thức hệ kiên định giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa càng bị tha hóa trong đảng biến tướng, lấn át. Ngày nay trên thực tế “định hướng XHCN” chỉ còn lại là một thứ “nhân danh”.
            Bốn cơ hội lịch sử nêu trên cho thấy: Mặc dù bối cảnh thế giới phức tạp như thế nào, khả năng ra khỏi khúc quanh của lịch sử là rất lớn. Điều kiện tiên quyết là phải nhận thức rõ được khúc quanh đau lòng này và nắm lấy những cơ hội đang đến với đất nước. Song mỗi lần cơ hội bị bỏ lỡ như thế, đất nước sau đó lại sa đà sâu hơn nữa vào con đường sai đang đi. Nước ta dù mấy thập kỷ vừa qua phát triển thế nào đi nữa, khoảng cách phát triển giữa ta và các nước phải so sánh (nhất là Trung Quốc, ASEAN…) tiếp tục rộng thêm, các khó khăn hôm nay đối với đất nước lớn hơn hôm qua, nhiều thách thức cũng lớn hơn – kể cả về mặt an ninh quốc phòng. Giữa thập kỷ 1990  đến đầu những năm 2000 bàn về triển vọng kinh tế Việt Nam, thế giới đã từng kỳ vọng về “con hổ” mới là Việt Nam. Từ dăm năm trở lại đây người ta nói “con hổ” Việt Nam không gầm được nữa!..
Cho đến nay, Việt Nam đạt được là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của tất cả các nước quan trọng trên thế giới. Song vì không có lực chống lưng, nên có tiếng mà không có miếng, trên thực tế Việt Nam vẫn ở vị thế khá chênh vênh – nhất là trong quan hệ với Mỹ, với Trung Quốc. Có thể nói, hiện nay đất nước có những mặt suy yếu hơn khóa đại hội X, khóa đại hội IX, vì tha hóa, và cũng một phần vì các vấn đề bây giờ phải giải quyết nan giải hơn rất nhiều. Làm yếu đất nước, đảng cũng đang tha hóa và suy yếu tiếp, đến mức nhiều khi phải tự vệ bằng nói dối. 
          Phải nói những nỗ lực bỏ ra cho củng cố chế độ, tăng cường quyền lực của đảng, của nhà nước và của hệ thống chính trị trong các khóa đại hội đảng vừa qua là rất lớn. Song vì sai hướng, vì không nhận ra xu thế đất nước đang ngày càng chìm sâu vào khúc quanh hiện nay của lịch sử, nên mọi nỗ lực bỏ ra ngày càng mang tính chất “siết” – nghĩa là ngày càng mất dân chủ nhiều hơn, ngày càng quẫn bách hơn về nội dung, về phương hướng. Ngoài “siết” ra, hầu như không có cái gì mới để nói, để làm. 
Trong khi đó đất nước hàng ngày có biết bao nhiêu vấn đề khó, bức xúc không thể chờ đợi, biết bao nhiêu vấn đề thiết thực phải mổ xẻ, phải tìm giải pháp – kể cả về mặt lý luận. Ví dụ: Đưa nông nghiệp và nông dân Việt Nam lên sản xuất quy mô lớn với công nghệ cao như thế nào? Phải giải quyết những mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội gì cho nhiệm vụ này?[2] Cải cách giáo dục làm đi làm lại mãi hai thập kỷ nay không xong.  Còn 6 năm nữa, Việt Nam có thể trở thành nước công nghiệp được không – dù là nói theo cách nào? Một nước Việt Nam công nghiệp thì cần phải đứng ở đâu trong những chuỗi sản phẩm nào của kinh tế thế giới đang thay đổi hiện nay? Cứ giả thử đạt được một nước công nghiệp như thế đi, thể chế chính trị yếu kém và tham nhũng như hiện nay có vận hành nổi không? … Lãnh đạo là trả lời cho dân cho nước những câu hỏi này, chứ không phải là hô hào và đặt câu hỏi cho dân: Trồng cây gì? Nuôi con gì?... …   
Còn một nỗi lo bao trùm, âm thầm, không bộc phát quyết liệt ngay trong cuộc sống hàng ngày, song tiềm tàng đe dọa ngày đêm: So với các nước trong khu vực, các công trình và các sản phẩm của cả nền kinh tế nước ta nhìn chung có chất lượng thấp hơn, giá thành cao hơn, ít thân thiện với môi trường. Trước mắt không ít công trình kinh tế lớn cứ ỳ ạch lên ỳ ạch xuống rất tốn kém kiểu như nhà máy lọc dầu Dung Quất. Một số công trình thủy điện đang là ác mộng cho các vùng hạ nguồn. Alumina Tân Rai và Nhân Cơ sẽ đi đến đâu? Rồi đây liệu có tránh khỏi tái diễn thảm kịch “cầu Chu Va 6” hay không? Xa lộ mới vài tháng đưa vào sử dụng đã phải đại tu, cầu Vĩnh Tuy mới hoàn thành nhưng đã có những vết nứt...  Trong toàn bộ nền kinh tế, hàm lượng công nghệ cao trong công nghệ được sử dụng không quá mức 4%. Công nghệ được sử dụng trong cả nền kinh tế chủ yếu là loại 2, loại 3 hoặc thậm chí thấp hơn. Đặc biệt là giá thành công trình kết cấu hạ tầng nhìn chung rất cao, độ bền thấp, thất thoát trong xây dựng ước tính 10 - 20%... Tình trạng tham nhũng đã đáng sợ, tình trạng lãng phí còn đáng sợ hơn… v.v. Cần nhìn nhận nguyên nhân câu chuyện này trước hết là lỗi của hệ thống, song cái lỗi hệ thống này lại do lỗi của toàn bộ hệ thống chính trị gây ra, lỗi riêng của từng con người chỉ là những nguyên nhân sau.
Cần đặc biệt lưu ý là (a) mọi ưu ái dành cho vai trò chủ đạo của các tập đoàn kinh tế nhà nước và kinh tế quốc doanh tạo ra đặc quyền đặc lợi lũng đoạn toàn bộ nền kinh tế, (b) quan điểm đất đai sở hữu toàn dân góp phần nghiêm trọng tạo ra bong bóng bất động sản và sự đổ vỡ của nó hiện nay, (c) những yếu kém của thể chế huy động và phân bổ nguồn lực dẫn đến rối loạn, lạm phát và thất thoát lớn, tiêu biểu là tình trạng khó kiểm soát hiện nay của hệ thống tài chính/ngân hàng. Đấy là ba nguyên nhân cơ bản tạo ra khủng hoảng cơ cấu kinh tế trầm trọng hiện nay của nước ta.  
Hệ quả: Về tổng thể, nước ta có một nền kinh tế đắt, cơ cấu lạc hậu, ít hiệu quả hơn, ít an toàn hơn so với tiêu chuẩn phải có. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục thấp đi; trong khi đó sự hỗ trợ của các hệ đòn bẩy cũng như của luật pháp vừa bị giảm hiệu quả nghiêm trọng, vừa rất xa sự mong đợi… Toàn bộ tình hình này không phải chỉ là câu chuyện của kinh tế và của kỹ thuật, mà chủ yếu lại là câu chuyện chất lượng của một thể chế chính trị quá nhiều khuyết tật: chồng chéo, quan liêu, ăn bám và tham nhũng. Sự thật là các vấn đề phải tháo gỡ hôm nay khó hơn rất nhiều so với cách đây 10 năm, 15 năm... 
Ngoài ra, cũng phải thừa nhận chế độ chính trị hiện nay có thêm nhiều bất an mới, phản ánh sự tích tụ những mâu thuẫn nội tại mới trong xã hội. Song có phải chủ yếu là do các thế lực thù địch và sự can thiệp của bên ngoài gây ra hay không? Cứ gia tăng mãi “siết” như thế này, và đồng thời cử dư luận viên đổ hết mọi tội lỗi cho các thế lực thù địch và sự can thiệp của bên ngoài, liệu chế độ có vững chắc hơn không?.. v.v… 
 Cuộc sống đang cho thấy, càng nỗ lực theo phương châm “siết” như vậy, tình hình các mặt của đất nước chỉ căng thẳng thêm. Bởi vì mọi vấn đề phải giải quyết hầu như còn nguyên vẹn, chẳng nghị quyết, khẩu hiệu nào hay đợt học tập chính trị tư tưởng nào có thể hốt chúng đi được. Các nhóm lợi ích tiếp tục hoành hành, kinh tế cứ xấu đi, trọng tội trọng án nhiều lên, văn hóa - xã hội xuống cấp tệ hại, mê tín dị đoan nẩy nở, mặc dù còn giữ được tăng trưởng kinh tế ở mức thấp, nhưng rất tốn kém. 
Một biểu hiện bộc lộ đặc trưng cho xu hướng thiên về “siết” là chưa bao giờ thấy ngôn ngữ của Ban Tuyên giáo đầy khẩu khí nhà binh như hiện nay: chỉ đạo và phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, các lực lượng làm công tác tuyên giáo, đội ngũ dư luận viên… để định hướng tư tưởng, tuyên truyền sâu, rộng, để quán triệt…  …  … Đọc những dòng chữ này trong những sách báo và tạp chí lý luận của đảng, tôi nhớ lại hồi là sinh viên học ở CHDC Đức, cuối thập kỷ 1950 tôi đã từng được đọc thứ ngôn ngữ na ná như vậy trong lưu trữ báo chí Đức quốc xã…
Tóm lại, đảng như hôm nay, nhất là những cơ quan làm trí tuệ của đảng, đang đứng ở đâu trong cuộc sống đất nước hiện đang dồn nén vô vàn khó khăn thách thức chưa có lời giải như vậy? Ai nói được lối ra nào cụ thể cho đất nước? Lấy từ đâu ra nguồn lực nào, cần bao nhiêu thời gian, cần những nỗ lực nào khác nữa… để cơ bản khắc phục được sự bế tắc nêu trên? Làm thế nào tạo ra cho đất nước động lực đi vào một thời kỳ phát triển mới trong cái thế giới phức tạp hôm nay?.. Trong khi đó luôn luôn đòi khẳng định đảng giữ quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội.
 Tình hình đất nước nêu trên, cùng với thực tế là chỉ trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ lãnh đạo đảng đã bốn lần bỏ lỡ cơ hội lớn, cho thấy đảng hiện nay ở trong trạng thái: bị mù quáng vì ý thức hệ, tư duy bế tắc, tầm nhìn thiển cận và lạc hậu, tâm sức phân tán quá nhiều cho mâu thuẫn nội bộ, đạo đức suy thoái trầm trọng, kỷ cương không nghiêm, thể chế và tư duy nhiệm kỳ loại bỏ nghĩ lớn, nghĩ dài….
 Nói nghiêm khắc: Sự tha hóa của đảng đã tới mức thủ tiêu tính tiền phong chiến đấu đã được rèn luyện trong các cuộc kháng chiến. Từ 30-04-1975 đến nay tha hóa đang từng bước diễn biến đảng trở thành một lực lượng cai trị ngày càng nhiều mâu thuẫn với lợi ích quốc gia. Dân gian nói thẳng: Mừng đảng rồi mới mừng xuân mà! Đảng bây giờ yêu mình trước đã!.. Đảng đứng trên cả đất trời!.. Đây mới là sự diễn biến hòa bình có thật mà bốn thập kỷ nay đảng quay lưng lại không dám nhìn. Trong khi đó đảng hầu như không tiếc một nỗ lực nào tạo ra sự sùng bái đảng, không ngần ngại chụp mũ cho mọi ý kiến xây dựng tộidiễn biến hòa bình, tội suy thoái đạo đức chính trị tư tưởng.., thậm chí còn thẳng tay trấn áp.  
 Đến đây có thể kết luận: Tình hình đất nước hiện nay và các mối tương quan  giữa các lực lượng trong xã hội nước ta đặt ra tình huống đỡ tổn thất nhất, đỡ xương máu nhất, đáng lựa chọn nhất, và cũng là khả dĩ nhất đi đến thắng lợi bền vững cho quốc gia, là ĐCSVN phải chủ động đề xướng sự nghiệp cải cách duy tân đất nước. Lợi ích quốc gia cao nhất đòi hỏi sự lựa chọn này, chứ không phải phẩm chất và trí tuệ hiện nay của đảng đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ trọng đại này. Nói dễ hiểu: đó là sự lựa chọn cực chẳng đã của tình thế đất nước.
 Đảng cần nhận rõ đòi hỏi khách quan nói trên của đất nước và sự hẫng hụt của bản thân để tự sửa mình, để nâng cao mình đáp ứng đòi hỏi này. Chưa nói đến, nghĩa vụ đảng đã cam kết trong cương lĩnh, món nợ chính trị với đất nước đảng phải trang trải…  Cần đặc biệt nhấn mạnh, tha hóa trong đảng đã tới mức: Đảng nhất thiết phải dựa vào dân thông qua sự nghiệp cải cách duy tân của đất nước lần này để thay đổi chính mình, để trở thành đảng đi với dân tộc, nếu không muốn bị tiêu vong. Song muốn làm được như thế, việc đầu tiên là lãnh đạo hiện nay và toàn thể đảng viên phải tự ý thức được là chính mình – chứ không phải ai khác – đang đẩy đất nước và bản thân mình ngày càng chìm sâu trong khúc quanh quái ác của lịch sử, với hệ quả là đất nước tiếp tục tụt hậu và lạc lõng trong thế giới hôm nay. Chẳng có thế lực thù địch nào làm nổi việc này cả. Cứ nói mãi tự phê bình và phê bình, nhưng tại sao lãnh đạo đảng năm này qua năm khác cứ nhắm mắt bỏ qua việc tự phán xét này? Các đảng viên không dám đặt ra với lãnh đạo đòi hỏi sống còn này cũng phải chịu trách nhiệm. Quan điểm của tôi: Để đất nước lâm vào tình trạng hôm nay, không một đảng viên nào vô can!
Nhân đây, xin lưu ý một tâm trạng phổ biến: Nhiều đảng viên tâm huyết với đất nước hỏi nhau trong toàn bộ đội ngũ lãnh đạo cứ như thế này cả thì không biết chọn ai bây giờ? Không có minh chủ, không thấy nhân vật nào có thể gửi gắm được! Mà như thế làm sao đất nước ra khỏi quẫn bách hiện nay!?.. Tôi hiểu được tâm trạng lo âu này, song không muốn tiếp cận vấn đề bằng cách lo tìm người để gửi gắm như thế. Đấy không phải là lối thoát.
Quốc gia nào cũng có những thăng trầm quyết liệt, đòi hỏi phải có những suy nghĩ quyết liệt. Cuộc nội chiến Bắc - Nam đẫm máu 1861 – 1865 ở Mỹ đẩy liên bang này đến bờ sụp đổ. Sau khi ra khỏi thảm họa này, tổng thống Lincoln nói, đại ý: Chiếc áo cộng hòa của chúng ta đã bị lấm lem, và vệt bẩn trong đất bụi. Chúng ta hãy giặt sạch cho nó trắng lại, bằng tinh thần, chứ không  phải bằng máu, bằng cách mạng… Đứng trước muôn vàn khó khăn của nước Mỹ 1993, tổng thống Clinton nói: “Không có gì sai với nước Mỹ mà không thể chữa trị bằng cái gì đúng với nước Mỹ.” [3]  Nghĩa là: Quyết định phải là cách đặt vấn đề đúng và giải pháp thích hợp.
 Dựa vào tinh thần những câu nói rất đáng ngẫm nghĩ trên, tôi cho rằng: Chế độ chính trị của nước ta tích tụ ngày càng nhiều sai trái và thối nát, đang kìm hãm đất nước, đã đến lúc nhân dân ta cần thay đổi nó. Nhưng không phải bằng máu, không phải bằng cách mạng, mà bằng sự giác ngộ của mỗi người dân chúng ta và ý chí thay đổi nó. Tôi cũng nghĩ rằng không một sai lầm nào của chế độ chính trị, cũng như không một khó khăn nào trong đời sống kinh tế - xã hội của nước ta không thể khắc phục được bằng giáo dục, trí tuệ, đạo đức, bằng ý chí tổ quốc trên hết, bằng đoàn kết hòa giải dân tộc đúng với tinh thần một người vì tất cả, tất cả vì một người.  
  III – Bàn thêm về con đường của chủ nghĩa xã hội
          Xin dành cho việc nghiên cứu lý luận cho những công trình lý luận. Trong phần này chỉ xin dựa vào thực tiễn của cuộc sống nêu lên một số ý kiến để tham khảo. 
          Nói tóm tắt, tôi muốn nhìn nhận sự ra đời của chủ nghĩa cộng sản (CNCS) và học thuyết Marx  như một bước phát triển trong lịch sử tư duy của nhân loại. Về nhiều phương diện, còn có thể xem CNCS là một nỗ lực của nhân loại tìm đường giải phóng mình ra khỏi quá trình phát triển không ít máu và nước mắt của chủ nghĩa tư bản ở vào thời kỳ đã mở đường ra toàn cầu, vì một tương lai tốt đẹp hơn của tự do. Tính đến khoảng hai thập kỷ đầu tiên sau Chiến tranh Thế giới II, lý tưởng giải phóng này đã chinh phục được 1/3 nhân loại: Đó là các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào các nước thuộc địa giành độc lập dân tộc. 
Song lý tưởng lãng mạn và cuộc sống thực là hai thực thể khác nhau. Mô hình thể chế chính trị của các nước XHCN ra đời từ lý tưởng lãng mạn này là “nhà nước chuyên chính vô sản + kinh tế kế hoạch hóa tập trung + công hữu tư liệu sản xuất”. Mô hình này không thực hiện được lý tưởng lãng mạn của giải phóng và tự do, nên thất bại. Cuối cùng nó tha hóa thành nhà nước độc tài toàn trị, với mọi tệ hại khủng khiếp vượt ra ngoài trí tưởng tượng. Các nước xã hội chủ nghĩa LXĐÂ tự sụp đổ từ bên trong như một lẽ tất yếu. 
Tuy nhiên, khát vọng giải phóng và tự do của con người không bao giờ ngừng nghỉ, thua keo này, bày keo khác, vì đó là lẽ sống. Khát vọng này tìm đường đi tiếp trong muôn ngả khác của cuộc sống, trong từng bước tiến bộ mới hàng ngày của văn minh nhân loại. Đã có chứng minh rất thuyết phục: Chông gai, xương máu, rác rưởi làm đau khổ cuộc đời này còn nhiều khắp nơi. Nhưng, nhờ vào sự phát triển mọi mặt của cuộc sống, các giá trị cao đẹp của con người và cuộc sống xã hội được phát huy tới đâu, con người được giải phóng và hoàn thiện tới đó trên con đường bất tận của chân, thiên, mỹ. Chỉ có các triết lý đúng đắn của các giá trị và các giá trị, chứ không có thứ chủ nghĩa nào trên đời này có thể giúp con người thành công trên con đường nó phải đi. 
Tôi nghiệm thấy như vậy, có niềm tin như vậy, sống theo như vậy, và như thế đối với tôi là đủ.Tôi không quan tâm chuyện có hay không có xu thế tất yếu loài người sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, vì – theo tôi – nó xa vời và quá huyễn hoặc, nếu có thì cũng là là câu chuyện của hàng trăm năm tới, hàng nghìn năm tới. Ai giữ niềm tin vào xu thế tất yếu này, tôi tôn trọng, coi đó là niềm tin tôn giáo của họ, tôi không tham gia tranh luận đúng / sai làm gì. Nhưng nếu muốn đem thứ niềm tin tôn giáo này áp lên đất nước, thì đây lại là vấn đề của cả nước, phải do cả nước quyết định. 
Cái mà người ta thường nói về con đường của chủ nghĩa xã hội, về định hướng xã hội chủ nghĩa, về các học thuyết và chủ nghĩa liên quan đến chủ đề này, về chủ nghĩa Mác – Lênin… với tính cách là các lý thuyết dẫn dắt mô hình phát triển quốc gia… đã từng gây tranh cãi quyết liệt ở nơi này nơi nọ trên thế giới. Chính F. Engels khi còn sống đã không dưới một lần phản biện lại Tuyên ngôn Cộng sản và phong trào cộng sản. Cuộc tranh cãi này đã đi tới hồi kết ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa  LXĐÂ cũ khi chuyển đổi chế độ, bằng cách từ bỏ lãng mạn đã theo đuổi, quay lại lựa chon con đường đi chung của nhân loại là “kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự”, với các mức thực hiện được rất khác nhau trong từng quốc gia này.   
Tôi cho rằng câu chuyện “con đường của chủ nghĩa xã hội” như thế là ngã ngũ, thiên hạ đã tổng kết khá thuyết phục.[4] Câu chuyện “con đường” này chỉ còn đang tiếp tục kéo dài ở Trung Quốc, Việt Nam… Song thực chất đây lại là chuyện chính trị và chuyện ý thức hệ, mà ngay cả cái gọi là chuyện ý thức hệ thì cuối cùng cốt lõi vẫn là chuyện chính trị. 
Nhìn lại, ta có được bức tranh tổng thể của con đường xã hội chủ nghĩa trên thế giới: (a) các nước LXĐÂ cũ đã xóa bỏ “cả gói” mô hình XHCN (bao gồm cả các đảng dựng lên chế độ XHCN ở những quốc gia này) để quay lại lựa chọn con đường chung của nhân loại, (b) Trung Quốc chỉ xóa bỏ con đường XHCN nhưng giữ nguyên đảng, vì yêu cầu thống trị toàn Trung Quốc và yêu cầu trở thành siêu cường Đại Hán, (c) Việt Nam hiện giữ nguyên đảng, điều chỉnh lại con đường thành “định hướng XHCN” để bảo toàn chế độ toàn trị với kết quả như thực trạng đất nước hôm nay. Cho dù bức tranh tổng thể này có những mảng màu khác nhau như vậy, song vẫn toát lên sự thực cốt lõi là mô hình của CNXH như đã dựng nên đã hoàn toàn phá sản ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Sự thật là như thế, và nên nhận định dứt khoát như thế trong tư duy cải cách, để gạt bỏ mọi điều còn lấn cấn,   để nghĩ và hành động theo hướng dẫn của trí tuệ và các giá trị, chứ không phải là của ý thức hệ. Nói tất cả vì con người, nói tổ quốc là trên hết, nhất thiết nên để cho trí tuệ và các giá trị quyết định hành động của mình. 
Xin nhắc lại, cái gọi là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc thực chất chỉ là chủ nghĩa tư bản đặc sắc đại Hán mang khát vọng siêu cường. Nếu nhìn về phương diện đối ngoại, còn phải nói chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc mang nhiều tính chất của thứ chủ nghĩa thực dân mới đặc sắc Trung Quốc mà dư luận thế giới đã phải thừa nhận là nó nguy hiểm hơn và vượt xa chủ nghĩa thực dân mới thế kỷ 20 trên mọi phương diện. Thứ chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc này đang theo đuổi khát vọng bành trướng chẳng những uy hiếp các nước láng giềng mà còn trở thành vấn đề của cả thế giới. Hiểu Trung Quốc là một chuyện, chính sách đối ngoại của nước ta đối với Trung Quốc là chuyện khác. Có hiểu thật đúng Trung Quốc, mới có khả năng tìm ra con đường cho nước ta thực được hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác, láng giềng tốt với Trung Quốc mà nước ta luôn mong muốn. 
Ở nước ta, những mục tiêu được đề ra cho xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thập kỷ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập thống nhất đã thất bại, dẫn tới phải tiến hành đổi mới kinh tế từ đại hội VI năm 1986, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội được điều chỉnh lại thành định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong gần ba thập kỷ tiếp theo, con đường định hướng xã hội chủ nghĩa này mang lại cho đất nước chỗ đứng như hôm nay và đã được trình bày khái quát trong loạt bài viết này. Hiện nay đất nước ta đứng trước đòi hỏi bức xúc phải thay đổi toàn diện theo hướng cải cách duy tân, để phát triển trên con đường dân tộc và dân chủ. Nói một cách khác, nước ta cũng phải tìm cách trở lại đi chung con đường của cả nhân loại, đó là phát triển đất nước thông qua thể chế kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.  Từ sau đại hội IX đã có sự thừa nhận nửa vời đối với đòi hỏi khách quan này, đó là thêm cái vỹ ngữ “định hướng XHCN” vào kinh tế thị trường, vào nhà nước pháp quyền, đồng thời thôi không nói đến chuyên chính vô sản nữa. Song cái “đuôi” (“vỹ ngữ”) thêm vào này trên thực tế lại là cái “đầu”, bởi vì nó có sức mạnh lũng đoạn kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền, qua đó nó biến dạng nghiêm trọng toàn bộ hệ thống pháp luật, đạo đức và kỷ cương của đất nước. Một số học giả của đảng đã đề nghị đưa khái niệm “xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa” vào hệ thống chính trị, nhưng đến nay chưa được chấp nhận.  Thêm vào những cái “đuôi” để đối phó như vậy, chung cuộc chỉ dựng lên được cho đất nước: Chế độ chính trị toàn trị + nền kinh tế thị trường kém phát triển như hôm nay + môi trường tự nhiên bị xâm phạm nghiêm trọng (cũng có ý nghiên cứu cho rằng Việt Nam đang ở thời kỳ của chủ nghĩa tư bản hoang dã). 
 Nhìn về lâu dài và khi điều kiện cho phép, có nhiều vấn đề của lịch sử nhất thiết phải nghiên cứu cho rành rẽ để tiếp tục tạo ra chỗ đứng vững chắc và tầm nhìn đúng đắn trong việc cân nhắc đại sự của đất nước. Cả một quá khứ đã đặt Việt Nam lên đường ray của chủ nghĩa xã hội suốt bốn thập kỷ như thế đang để lại để trang trải rất nhiều vấn đề và hệ quả cho hôm nay cũng như cho tương lai. Đó là sự thật khách quan. 
Song cuộc sống của đất nước không thể chờ đợi, trong khi đó năng lực làm việc của con người chỉ có hạn. Do đó nên tập trung sức lực cho tiến hành cải cách với tinh thần khép lại quá khứ, nhưng không trốn tránh giải quyết những vấn đề sống còn của đất nước do quá khứ để lại. Cần bình tĩnh và tỉnh táo đặt ra cách tiếp cận này, đơn giản vì không thể nôn nóng cùng một lúc giải quyết mọi việc, mà toàn là những việc nhạy cảm, bức xúc, nóng bỏng, nhiều việc chưa có lời giải... 
Tối ưu nhất là đảng chủ động huy động trí tuệ cả nước dựng nên một chiến lược cải cách duy tân đất nước, kế hoạch tổng thể thực hiện chiến lược này, lộ trình tiến hành. Đồng thời, đảng cần vận động toàn dân – trước hết là đảng viên – trau dồi hiểu biết và phấn đấu hết mình cho sự nghiệp cải cách duy tân đất nước với tinh thần Diên Hồng. 
Cải cách đòi hỏi một cuộc vận động, giáo dục, học tập sâu rộng và lâu bền trong toàn quốc. Cứ nhìn công sức và nguồn lực đã bỏ ra cho nhiệm vụ “giữ vững định hướng” – như qua các đợt học tập chính trị, qua đợt vận động quá nhiều hình thức giả dối cho việc sửa đổi hiến pháp, vân vân.., có thể nói dứt khoát: Đất nước dù còn nghèo, song hoàn toàn không thiếu nguồn lực cho thực hiện cuộc vận động vỹ đại này để phục vụ sự nghiệp cải cách duy tân đất nước, bắt đầu từ học tập. Chỉ có chuyện nguồn lực này cố ý được sử dụng cho những mục đích khác! Sử dụng nguồn lực như thế là sự lãng phí đầy tội lỗi, là sự tham nhũng cơ hội của đất nước… 
Đất nước ta, dân tộc ta đã phải chịu đựng quá nhiều tàn phá và đau thương rồi. Bây giờ, ngay trong cải cách và sau đó, không cần thiết phải mất thêm một giọt máu, không cần thêm một sự tàn phá, không cần phải có thêm một trận chiến tương tàn! Người Việt với người Việt là con một nhà, là anh em, hãy tất cả cho cải cách! Hãy tha thứ cho nhau và vì nhau để cải cách thành công bằng được! Hãy giúp nhau hiểu biết để ai cũng có thể tham gia vào sự nghiệp đổi đời chính bản thân mình và đổi đời đất nước mình! Hãy bảo vệ nhau và hợp tác với nhau đến cùng cho cải cách duy tân đất nước! Ê chề trước thiên hạ vì nghèo hèn, danh dự dân tộc bị xúc phạm, tất cả như thế là quá đủ rồi! Hãy quyết bảo nhau trong cải cách: Thiên hạ làm được thì người Việt ta cũng làm được! 
Lại hỏi: Trước sau đảng vẫn khước từ cải cách duy tân đất nước thì sao? 
Đáp: Câu hỏi này đã trả lời rồi.
  Thay lời kết: Thông điệp của nhân dân 
         Một nhân vật lịch sử, một anh hùng dân tộc sống mãi trong lòng dân. Sự kiện dân làm đám tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói lên rất rõ điều này. Cả nước đã nói lên điều này, không có gì phải bàn thêm nữa. 
          Song việc hàng triệu người dân cả nước trực tiếp chia tay với Đại tướng một cách thành kính, tha thiết, không chỉ biểu thị một tấm lòng với người đã khuất, mà còn là lời gửi gắm, lời nhắn nhủ.., và nhất là còn là một lời nhắc nhở không thể bỏ qua đối với người còn sống. 
          Hàng triệu người trong cả nước, không ai bảo ai, cũng chẳng ai đứng ra tổ chức, tất cả cùng nhau trang nghiêm tiễn đưa Đại tướng, trong một trật tự tự giác chưa từng thấy… Sự việc này trịnh trọng nói lên ý chí của nhân dân, biểu thị mãnh liệt quyết tâm và khả năng của nhân dân trong việc thực hiện ý chí của mình. Không gì có thể cản nổi! Xưa nay hiếm thấy một đám tang nào như thế dành cho một đảng viên từ khi đảng còn trứng nước, một vị tướng được nhân dân coi là của mình, một con người nhân dân ngưỡng mộ. Cả nước được chứng kiến: Ý chí trở thành triệu người một khối, lừng lững, hòa bình… Hiếm thấy một đám tang nào nói lên nhiều điều như thế đối với cả nước, nhất là trong bối cảnh của đất nước hôm nay. 
          Tôi thầm hiểu, thế nào là nhân dân muôn người như một trong một nguyện vọng, trong một ý chí, trong một hành động. Nói đến cải cách duy tân đất nước hôm nay, nếu khởi xướng lên được với tất cả tinh thần và nội dung thiêng liêng của sự nghiệp đổi đời này, đất nước ta chắc chắn sẽ có nhân dân muôn người như một, trong một ý chí, trong một hành động.  
         Tôi tin rằng sẽ có một ngày như vậy./.      Võng Thị - Hà Nội, ngày 01-03-2014
__________________________
[1] Tìm xem các bài liên quan tôi đã viết trong khoảng 10 năm trở lại đây, trong:http://nguyentrung-vt.blogspot.com
[2] Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới như đang được đề ra không thể giải quyết vấn đề này.
[3] Nguyễn Xuân Xanh: Diễn văn Gettysburg - huyền thoại của Abraham Lincolnhttp://sgtt.vn/Quoc-te/187634/Bai-dien-van-Gettysburg-huyen-thoai-cua-Abraham-Lincoln.html
[4] Nguyễn Trung: Diễn văn của Tổng thống Joachim Gauck kỷ niệm 150 năm đảng Dân Chủ Xã Hội Đức,  http://viet-studies.info/NguyenTrung/MguyenTrung_DienVanTongThongDuc.htm



BÀI 4
Yêu nước và nói thật


I – Hãy đối mặt với sự thật
Đọc lại nhiều ý kiến tâm huyết từ rất nhiều nơi trong nước trong các năm 2010, 2011 góp ý cho đảng nhân dịp đại hội XI, tôi thấy hầu như chẳng có ý kiến nào được tiếp thu. Mọi vấn đề được đặt ra hồi ấy, hôm nay vẫn còn nguyên vẹn. Khác chăng là tình hình mọi mặt của đất nước và của đảng hôm nay có nhiều mặt xấu hơn so với cách đây ba, bốn năm, xấu hơn nhiều so với các năm khóa X, khóa IX... Tình hình đòi hỏi phải chặn đứng xu thế này.
Thực tế đại hội XII phải đối mặt là:
1.  Kinh tế khủng hoảng cơ cấu nghiêm trọng, đặt ra nhiều vấn đề nan giải, nguồn lực mọi mặt (kể cả chất xám, năng lực quản trị đất nước, nguồn nhân lực) để cải tạo cơ cấu cũng như để chuyển nền kinh tế đi vào một thời kỳ phát triển mới đều rất hạn chế, trong khi đó cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt, bối cảnh chính trị quốc tế đặt ra nhiều thách thức mới.
2.  Thể chế chính trị nói chung, thể chế nhà nước nói riêng ngày càng lạc hậu so với sự phát triển của đất nước và mọi đòi hỏi mới đặt ra; tha hóa, quan liêu và tham nhũng không kiểm soát được; hiến pháp vừa mới sửa đổi trong thể chế hiện hành khó có khả năng cải thiện tình hình. Trong khi đó đời sống văn hóa xã hội tiếp tục xuống cấp và ngày càng nhiều bất cập; đặc biệt sự tụt hậu xa về giáo dục đang băng hoại nhiều giá trị, làm suy yếu phẩm chất con người và nguồn nhân lực quốc gia, để lại nhiều hậu quả lâu dài cho tương lai.
3.  Đảng hôm nay tiếp tục tha hóa về phẩm chất, trí tuệ và năng lực; tổ chức của đảng ngày càng bất cập trước sự phát triển, trước tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước nói chung và của đảng nói riêng; năng lực lãnh đạo của đảng ngày càng mờ nhạt vì bế tắc về quan điểm đường lối; hệ quả là đảng đang rơi tiếp trong xu thế từ một đảng lãnh đạo xuống thành một lực lượng chính trị độc quyền.
Toàn bộ tình hình trên đặt ra đòi hỏi sống còn: Cải cách thể chế chính trị và triệt để đổi mới đảng là lối thoát duy nhất để đưa đất nước đi vào một thời kỳ phát triển năng động mới, đáp ứng đòi hỏi cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, đồng thời để có thực lực đối mặt được với mọi thách thức mới. Đòi hỏi này đã chín muồi từ trước khi họp đại hội X, đại hội XI, được rất nhiều ý kiến tâm huyết của cả nước thôi thúc, song đã bị làm ngơ. 
Đã đến lúc đảng phải có ý chí nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần trách nhiệm cao nhất, nghiên cứu mổ xẻ thực trạng mọi mặt của đất nước, của đảng, và tìm giải pháp. Tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế cho thấy đòi hỏi cải cách toàn diện đất nước đã tới thời điểm chín muồi trên hai phương diện cực kỳ quan trọng:
-  Tha hóa và nguy cơ sụp đổ đã đến mức không thể trì hoãn cải cách canh tân đất nước.  
-  Thực lực và tình hình mọi mặt của đất nước và bối cảnh quốc tế cho thấy hiện nay còn đủ sức và có cơ hội tiến hành cải cách thành công; lúc này tiến hành cải cách là tối ưu nhất đối với đất nước. Càng để muộn, triển vọng này sẽ mất đi nhanh chóng, đồng thời nguy cơ hiểm họa tăng lên.
Với cách đặt vấn đề như trên, đề nghị ngay từ bây giờ nên bắt tay vào mọi công việc của đại hội XII với nhận thức và ý chí hoàn toàn khác, không bị ràng buộc vào ý thức hệ hay bất kỳ tiền lệ hoặc công thức nào, chỉ có đòi hỏi quyết liệt hiện nay của lợi ích quốc gia quyết định tất cả.
Không nên tiến hành chuẩn bị đại hội XII như cách đang làm của đường mòn lâu nay.
Rất nên huy động chất xám đánh giá khách quan tình hình mọi mặt của đất nước và kiến nghị giải pháp, trên cơ sở này xây dựng chiến lược cải cách canh tân đất nước (gọi tắt là cải cách), vì những lý do sau đây:
-  Giai đoạn của công cuộc đổi mới đã làm làm xong nhiệm vụ của nó. Ở chỗ đứng hiện nay và trước những vấn đề mới đặt ra, giai đoạn phát triển mới của đất nước nên bắt đầu bằng cải cách, mở ra triển vọng mới của đất nước độc lập thống nhất. Cải cách như thế nên được thiết kế như một giai đoạn phát triển mới, để đưa Việt Nam đi tiếp trên con đường trở thành nước phát triển.
-  Mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại – theo suy nghĩ của tôi – là không thể hoàn thành được, dù nhìn theo bất kỳ phương diện nào. Hơn thế nữa sau 3 thập kỷ phát triển ban đầu, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước hiện nay đang mất phương hướng, hay là đang đi vào hướng sai ngày càng bế tắc – đấy là hướng trở thành nước cho thuê, nước đi làm thuê.
-  Đất nước đang ngày càng tích tụ nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nan giải. Đồng thời sự tha hóa hiện nay của chế độ chính trị khách quan cũng đặt ra đòi hỏi phải thực hiện một quá trình cải cách, với mục đích tìm đường ra khỏi hướng đi bế tắc hiện tại và tạo ra sự phát triển mới của đất nước.
Với cách đặt vấn đề như vậy, tôi cho rằng 5 – 10 năm tới sẽ là thời kỳ vô cùng quan trọng: phải ra khỏi những khó khăn rất lớn hiện nay, đồng thời phải thực hiện được những bước đầu tiên của sự nghiệp cải cách, đặt nền móng cho một quá trình phát triển mới bền vững. Có thể nói kể từ khi đất nước độc lập thống nhất, sự nghiệp cải cách lần này mở đầu sự nghiệp đổi đời đất nước, để kiên định bước đi trên con đường trở thành một nước phát triển.
Đặt ra vấn đề phải cải cách, còn vì lẽ có quá nhiều di sản tai hại và nặng nề của quá khứ xa xưa nay còn bám rễ hoặc thậm chí đang có phát triển mới trong lòng chế độ hôm nay.
Đặt ra vấn đề phải cải cách, còn vì lẽ những hiện tượng tha hóa trong 4 thập kỷ đầu tiên của đất nước độc lập thống nhất cũng tạo ra một thứ di sản văn hóa không thể được dung dưỡng trong một nước phát triển.
Nếu nhận định trên là đúng, nhiệm vụ chính trị của đại hội XII sẽ phải là chặn đứng xu thế phát triển nguy hiểm hiện nay, thông qua cải cách mở ra một thời kỳ phát triên mới của đất nước và của đảng.
Sự thật là trong đảng viên cũng có người nghĩ: Đảng ngày nay hư hỏng và tham nhũng đến thế này rồi thì không thể cải tạo được nữa! Cứ để cho nó sụp đổ quách đi cho xong, lập lại cuộc đời! Níu kéo mãi sự ê chề này khổ dân khổ nước lắm, nhục lắm!.. Thậm chí suy nghĩ này còn viện dẫn Yeltsin giấy trắng mực đen làm cơ sở.
 Suy nghĩ nói trên có thể thông cảm được, song là cách nhìn tiêu cực và nguy hiểm, đồng nghĩa như chịu bó tay trước thảm họa đang đến. Mặt khác, tự che khuất nguy cơ thảm họa bằng những suy nghĩ thiển cận, hoặc bằng cách giấu dân, lừa dân, tình hình đất nước không vì thế mà bớt xấu đi.
Lãnh đạo đảng và toàn đảng nên sớm tạo ra nhận định thống nhất của cả nước và trong đảng về toàn bộ thực tế đất nước nêu trên, đồng lòng tìm đường tiến hành cải cách thay đổi tình hình đất nước.

II – Tinh thần Cách mạng Tháng Tám – Tuyên ngôn Độc lập – Hiến pháp 1946
         
Đó là tinh thần toàn dân một lòng đứng lên giành lại đất nước, dựng lên chế độ do mình làm chủ. Đó là con đường dân tộc – dân chủ. Trong sự nghiệp này, lúc ấy ĐCSVN là người tổ chức, người dẫn đường, và tự mình đã xả thân cùng toàn thể dân tộc chiến đấu cho sự nghiệp này.
Nói công bằng, dấy lên được tinh thần này và đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi, công đầu là của ĐCSVN thời kỳ tinh hoa của nó. Về sau, tinh thần này đã bị xâm phạm. Đây là một chuyện khác, rồi đây cần được mổ xẻ để rút ra những bài học cho sự nghiệp cải cách canh tân đất nước.
Tinh thần dân tộc – dân chủ ấy hiển nhiên là sự kế thừa các triết lý và các giá trị của văn minh nhân loại, không thể tìm thấy trong tinh thần này bất kỳ một thứ “chủ nghĩa” nào. Tinh thần này đã làm nên sự nghiệp. Đất nước ta hiện nay chỉ có vấn đề vứt bỏ tinh thần này, không trung thành với tinh thần này, đang cố chôn vùi tinh thần này bằng “chủ nghĩa”, nô dịch đất nước bằng chủ nghĩa. Nước ta hiện nay không có vấn đề tinh thần này đã lỗi thời, mà chỉ có vấn đề tinh thần này cần được đánh thức lại và phải được hun đúc hơn bao giờ hết.
Tinh thần này được ghi lại trong lời nói đầu của Hiến pháp sửa đổi 2013. Song đấy chỉ là cái bia dựng lên cho nấm mộ của những việc đã qua, nội dung của Hiến pháp 2013 không có gì liên quan đến và thậm chí đi ngược tinh thần này.
Cả tình cảm và lý trí, riêng tôi rất mong sự nghiệp cải cách nên được khởi xướng với tinh thần này, được nuôi dưỡng bằng tinh thần bất hủ này. Cũng phải nói ra một tình cảm rất riêng tư nữa, trong đại gia đình mình, tôi có cha chú mình cống hiến cho tinh thần này từ trước năm 1945 với tất cả trí tuệ và nhiệt huyết của thời ấy, nên tôi có sự gắn bó thiêng liêng, tôi không thay đổi được mình. Bản thân tôi cũng được nuôi dưỡng và bước vào đời với tinh thần này. Bây giờ kinh nghiệm đường đời giữ cho tôi kiên trì với tinh thần này.
Tôi không giấu diếm, kiên trì với tinh thần này cũng là thái độ tôi lựa chọn đối với mọi thứ “chủ nghĩa” và mọi “thần tượng”. Trong tôi có khát khao của tự do và có người tôi yêu, nên chẳng lúc nào thích hợp với “chủ nghĩa” và “thần tượng”. Đấy là trong tư duy cho riêng mình thì như thế. Song trong việc của đất nước, tôi khuyến nghị tạm thời gạt mọi tranh luận về “chủ nghĩa” sang một bên cho lúc nào đó sẽ hay, đừng để nó đánh lạc hướng mình. Việc này trước sau sẽ phải làm, song trước mắt khoan khoan đã, và nếu làm cũng phải từng bước.
Việc cả nước bây giờ, cả nước nên tập trung mọi trí tuệ, nỗ lực và giải pháp của những việc phải làm cho cải cách, theo sự mách bảo của lẽ phải, của các kinh nghiệm thất bại và thành công trong nước mình cũng như của thiên hạ, với tinh thần ta làm chủ bản thân mình chứ không chịu làm nô lệ cho bất kỳ ý thức hệ nào.
Xin dành cho chất xám cả nước vạch ra chiến lược cải cách và các công việc đại hội XII nên làm. Đây là việc của cả nước. Về phần riêng, chỉ xin góp ý: Mọi việc nên bắt đầu từ việc dễ làm nhất, hứa hẹn thành công. Nên đi từ dễ đến khó, từ việc trước đến việc sau, với một sự kiên định tuyệt đối nói đi đôi với làm. Việc mở đầu của mọi việc, đặt tiền đề cho mọi việc có lẽ là thực hiện nói thật, công khai minh bạch và dân chủ.
Nên kiên định tìm đường thực hiện cải cách của giác ngộ và của ý thức trách nhiệm, chứ không phải cải cách của cảm xúc và thói quen bầy đàn. Chỉ có thể đạt được điều này thông qua học tập.  Hơn nữa, có sự thật là trình độ quan trí, dân trí, ý thức về dân chủ, sự giác ngộ về trách nhiệm công dân, ý thức về tôn trong pháp luật… trong cả nước nói chung còn thấp, đất nước còn nhiều phong tục tập quán hủ lậu.  Hơn thế nữa, việc thực hiện dân chủ, đoàn kết, hòa giải dân tộc với tinh thần khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, không hồi tố, sẽ có nhiều điểm khác hoặc thậm chí trái ngược với những thứ chế độ chính trị  hiện tại cho là đúng hay coi là chuẩn mực, đòi hỏi phải đặt lại, học tập lại, có nhiều điểm thậm chí phải học lại từ đầu, phải qua các cuộc vận động mới thực hiện được… V… v… Toàn bộ thực tế này trên phương diện nhất định còn là hệ quả những yếu kém 40 năm của chế độ chính trị. Tất cả những điều này cho thấy cải cách không thể ăn sống nuốt tươi được, quá trình học tập để cải cách có một ý nghĩa quyết định.
Tạo mọi điều kiện cho dân học hỏi được đến đâu, dứt khoát dân sẽ đòi và tự thực hiện được cải cách đến đấy với tất cả hiểu biết và ý thức trách nhiệm của mình. Vậy muốn đẩy nhanh cải cách, thì trước hết người dân cũng phải tự đẩy nhanh quá trình học tập, giác ngộ của chính mình. Ở vị trí người cầm quyền, phải làm hết mình thúc đẩy quá trình trưởng thành nhận thức của người dân, coi đây là nhiệm vụ thề phải thực hiện trước tổ quốc, trước toàn dân.
Cả nước một lòng phấn đấu làm sao tạo nên được sự nghiệp cải cách của giác ngộ và trách nhiệm, dứt khoát loại bỏ mọi phản lực ngược lại.
Đặt vấn đề tiến hành cải cá ch như thế, sẽ có thể tiến hành cải cách trong hòa bình, ổn định, sẽ có đủ can đảm để tiến hành cải cách.
Thực ra, không đến nỗi phải bắt tay vào việc với con số không. Nhặt chỗ này chỗ khác từng điểm ngay trong các nghị quyết chính thức của ĐCSVN khóa XI, sẽ có nhiều việc đúng, đáng làm. Cái khúc mắc là ở chỗ: nói nhưng không làm được dù muốn, nói chỉ để cho đẹp, nói rồi để đấy không làm, hoặc làm không đến nơi đến chốn, nói thế nhưng làm khác… Thông điệp đầu năm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu lên được nhiều việc đích đáng phải làm, cả nước đang chờ đợi xem sẽ được làm như thế nào. Có hiến pháp mới rồi – dù là nó không mới lắm, có nhiều lời nói hay, nói đúng về nó rồi, nhưng trong cuộc sống hiện nay vẫn là tiếp diễn và tái diễn nhiều chuyện trấn áp cũ. Cứ để cho nói khác với làm như thế, dứt khoát không thể cải cách được và sớm muộn sẽ mất hết, phá hủy hết; chính đây là khó khăn đầu tiên phải loại bỏ để tiến hành cải cách.
Cuộc đời có muôn vàn lối đi đến lẽ phải và hướng về chân lý, đâu có nhất thiết cứ phải trải qua những “cuộc cách mạng” hoa này hay hoa khác? Cuộc đời cũng chứng minh sự vận động như một tính quy luật: chỉ có ý chí nhưng trí tuệ chưa đủ tầm, chưa tạo ra được những yếu tố phải có khác, cũng không thể làm nên sự nghiệp cải cách. Bất kỳ sự hẫng hụt nào cũng phải trả giá. Hơn nữa, nước ta có một lịch sử khác, mọi điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác, nay bị tụt hậu và lạc hướng, thì nhất thiết phải tìm ra cách riêng của ta để bước vào và đi chung trên con đường đi chung của nhân loại. Vả lại, nước ta đã làm cách mạng đủ rồi, bây giờ nên dồn hết trí tuệ, ý chí và mọi sức lực cho phát triển. Chia sẻ ý kiến này, tôi mong mỏi được trao đổi về sự lựa chọn của nước ta hôm nay, để cả nước cân nhắc, quyết định làm những việc phải làm.
 Nói lại chuyện cũ: Cách đây nhiều năm, UNESCO đề nghị nhà nước ta tìm lại văn bản gốc có bút tích người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Lý do UNESCO đưa ra: Đấy là sự lên tiếng của một dân tộc bị áp bức, dám bằng trí tuệ và tinh thần giải phóng của nhân loại đứng lên tự khẳng định mình, tự giải phóng chính mình. Một văn bản như thế phải được lưu giữ trong kho tàng văn hóa của nhân loại. Tiếc thay, hồi ấy thời trứng nước, và chiến tranh ập đến sớm quá, không sao tìm lại được văn bản gốc có bút tích viết tay của người soạn thảo.
Ngày đêm, nhiều lần tôi tự hỏi mình, để tìm ra câu trả lời cho chính mình: Thực hiện cải cách như thế, ĐCSVN hôm nay sẽ còn hay mất? Lật đi lật lại, cân nhắc phải đến hàng trăm lần, cuối cùng vẫn chỉ là một câu trả lời: ĐCSVN hôm nay sẽ mất cái xác, mất luôn cả các thứ chủ nghĩa đeo bòng nó, để sống trở lại là cái đảng của tinh thần Cách mạng Tháng Tám, Tuyên Ngôn Độc Lập, Hiến pháp 1946. Võ Văn Kiệt nói đúng: Đó chính là đảng của dân tộc! Đây cũng là câu trả lời tôi chọn làm lẽ sống cho mình.

III – Nói đi đôi với làm

-  “…những bước phát triển vượt bậc của đất nước ta đều gắn liền với những đổi mới có tính quyết định về thể chế, bản chất là mở rộng dân chủ”.
-  “Nguồn động lực đó phải đến từ Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân”. … , 
-  “Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển.”
-  “Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh. Pháp luật và cơ chế chính sách phải tạo thuận lợi nhất cho mọi người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Tài nguyên, nguồn lực của quốc gia phải được phân bổ tới những chủ thể có năng lực sử dụng mang lại hiệu quả cao nhất cho đất nước.”
-  “Nhà nước phải có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển. Phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để xây dựng và bảo vệ đất nước.”
-  “Nhà nước phải xây dựng cho được bộ máy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Mọi cơ quan, công chức đều phải được giao nhiệm vụ rõ ràng”.
-  Vân vân*
(Trích thông điệp của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).
Những điều nói trên mang tính quy luật khách quan, bất kể sự tiến bộ kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội ở quốc gia nào xưa và nay đều phải tổng kết, tuân thủ.
Thiết nghĩ người đứng đầu và các cơ quan đầu não của đảng rất nên mời chất xám của đất nước giải quyết bài toán: Làm thế nào thực hiện những vấn đề có ý nghĩa sống còn và mang tính quy luật khách quan nêu trên cho cải cách?  
Thật ra chẳng cần phải chờ đến lời mời này, không ít người có trí tuệ và tâm huyết với đất nước ngày đêm vẫn đau đáu suy nghĩ mình có thể làm gì cho đất nước, bất chấp cái giá phải trả cho tự do tư duy. Vấn đề của đất nước là những nỗ lực này bị bóp nghẹt, chứ không phải là chuyện nào khác.
Như đã nói nhiều lần và xin nhắc lại: Đất nước này không thiếu trí tuệ và những điều kiện khác cho sự nghiệp cải cách; kinh nghiệm thế giới và những điều kiện của thời đại tin học ngày nay trong thế giới toàn cầu hóa mang lại rất nhiều thuận lợi cho cải cách thành công. Chỉ cần đừng hoang tưởng dựa trên các chủ nghĩa, chỉ cần trả lại quyền làm chủ của dân cho dân, đất nước này sẽ làm nên tất cả.
Kinh nghiệm vượt qua những khúc thăng trầm của đất nước và kinh nghiệm làm nên công cuộc đổi mới của nước ta rất giầu trí tuệ. Đồng thời ngay trước mắt, nước ta có nhiều điều rất đáng học từ Myanmar hôm nay, từ Hàn Quốc, Israel, Thụy Sỹ…  Thiết nghĩ hoàn toàn có thể thiết kế nên một chiến lược cải cách, với một lộ trình bắt đầu từ nhiệm vụ chính trị của khóa đại hội XII: Đó là mở ra những bước đi đầu tiên cho toàn bộ sự nghiệp cải cách canh tân đất nước trong một hai thập kỷ tới – với phương châm: Lấy giáo dục, công khai minh bạch và dân chủ thúc đẩy cải cách, làm cho tiến bộ kinh tế đồng hành với tiến bộ cải cách,  kinh tế và cải cách đạt tới đâu mở rộng cải cách tới đấy, lấy cải cách xây dựng nên nhà nước dân tộc và dân chủ kiến tạo phát triển, với cái đích đưa Việt Nam trở thành nước phát triển.
Nói một cách khái quát, lấy cải cách để đưa đất nước tiến bước thành công trên con đường của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự, thực hiện thắng lợi sự nghiệp dân giầu nước mạnh – xã hội dân chủ công bằng văn minh.
Xin nhấn mạnh một lần nữa, theo suy nghĩ chủ quan của tôi, muốn cứu nước cứu đảng, khóa đại hội XII phải đứng ra nhận lấy sứ mệnh lịch sử là huy động trí tuệ và nghị lực cả nước, đặt cho được những viên gạch đầu tiên của nền móng phải xây nên cho sự nghiệp cải cách canh tân đất nước. Đấy chính là chương trình nghị sự 5 năm của nhiệm kỳ khóa đại hội XII trong khuôn khổ chương trình nghị sự trung hạn của đất nước trên con đường trở thành nước phát triển. Phải quyết liệt, nhưng kiên trì như dời núi lấp biển, vì chẳng có Kim tự tháp nào được xây dựng nên trong một một đêm cả.
Hai năm tới đến đại hội XII là đủ thời gian làm mọi việc để tổ chức đại hội XII với tinh thần và nội dung như thế. Năm năm của nhiệm kỳ khóa đại hội XII là đủ thời gian đổi mới đảng cho phù hợp để tham gia vào tiến trình cải cách của đất nước.
Tôi không quan tâm trong quá trình cải cách này ĐCSVN hôm nay mất hay còn, mà chỉ quan tâm đến cái đảng mình đã từng giơ tay tuyên thệ gia nhập thời trai tráng rồi đây sẽ nắm bắt được hay bỏ lỡ mất câu chuyện: một ngày nào đó trong nước Cộng hòa Dân Chủ Việt Nam có một đảng Lao động Việt Nam... Tư duy như thế, vì tôi không muốn chơi game bằng xương máu của đất nước. Nghĩ như thế, có người sẽ bảo tôi đấy là niềm tin tôn giáo. Tôi chấp nhận, đa nguyên là như vậy mà, mỗi người mỗi vẻ.
Đối với tôi, thiết nghĩ mọi chuyện đã rõ, không còn gì là mơ hồ hay phải vấn vương nữa. Chỉ cần nói đi đôi với làm sẽ tạo ra cú hích đầu tiên chuyển động cả đất nước. Ngày 04-01-2014 trong cuôc gặp đầu năm với báo Tuổi trẻ nhân bàn về thông điệp đầu năm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tiếng nói của trí thức rất rõ ràng: Chỉ cần làm đi, sẽ có chuyển biến ngay. Bắt đầu từ trả lại tự do cho những người bất đồng chính kiến bị kết án tù tội, thôi dùng báo chí lề phải và dư luận viên trấn áp lẽ phải, thực hiện ngay những quyền của công dân được ghi trong hiến pháp vừa mới được thông qua, hãy nói thật và thôi nói dối…vân vân…

 Một chuyện cũ lúc này nên kể lại:
Cố tổng bí thư Trường Chinh kiên định một cách rất lý trí lập trường của mình về chủ nghĩa xã hội. Rất khó hình dung một người như thế mà cuối cùng đã giữ vai trò quyết định ở đại hội VI, dẫn đến công cuộc đổi mới. Nhiều đảng viên làm việc gần cố tổng bí thư giải thích: Không nghe tiếng nói của cuộc sống và của dân, không có trí tuệ cần thiết, không đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cố tổng bí thư Trường Chinh có lẽ không thể chấp nhận một nghị quyết mà trên thực tế là đi ngược 180 độ đường lối kinh tế kinh điển của đảng lúc bây giờ và của chính bản thân mình. Tôi thấy giải thích này có lý và khâm phục phẩm chất quý báu này.
Tôi biết rất rõ đổi mới trước hết bắt đầu từ dân với muôn vàn việc làm vô cùng sáng tạo, khác hẳn với đường lối quan điểm chính thống, và vượt xa tầm nhìn của đảng lúc bây giờ. Qua ví dụ này thấy được, vì nước cố tổng bí thư đã học dân, đảng đã học dân, và học được. Cuối cùng, đổi mới vì lợi ích của đất nước, đảng đã chấp nhận đưa cuộc sống vào nghị quyết của đảng. Ví dụ này hôm nay vẫn có ý nghĩa rất thời sự, là tấm gương cho đảng trong khắc phục cái bệnh đưa nghị quyết của đảng vào cuộc sống – nghĩa là khiên cưỡng, duy ý chí, áp đặt… Luôn luôn đúng sẽ phải là: đưa cuộc sống vào nghị quyết của đảng, để làm cho lòng dân trở thành ý chí của đảng (chứ không phải ý đảng lòng dân), để tất cả vì dân vì nước.
Như vậy, cái gì trong sự nghiệp cải cách hiện nay đảng chưa biết, dân có thể hoàn toàn giúp được, dựa vào dân hoàn toàn có thể làm được.

Mong muốn của người đứng bên lề cuộc sống

Gần hai thập kỷ đứng bên lề cuộc sống, tôi thực sự không đủ tư cách, không đủ thông tin để đưa ra bất kể một đề nghị gì  - dù là của cá nhân - về công việc của đất nước. Tôi cũng không muốn làm như vậy. Chưa nói đến hiểu biết của tôi ngày càng hạn chế, vì cuộc sống không đứng một chỗ. Tất cả những gì tôi viết ra, xin hiểu cho đấy chỉ là sự chia sẻ suy tư để mọi người tham khảo.
(1) Viết đến đây, về phần kinh tế, tôi ước mong: Làm sao chế độ này, nhà nước này có chính sách hay “bửu bối” nào đó, khiến cho không một đồng bạc nào của nền kinh tế - dù là thuộc hình thức sở hữu nào, dù là dưới dạng nào (tiền, đất, vàng, chất xám, know-how, sức lao động, của cải…) chịu nằm yên. Mỗi đồng bạc đều ngứa ngáy hay được chỉ dẫn, được khuyến khích chui ra thị trường sinh sôi nẩy nở một cách công khai, chân chính – nghĩa là đúng với luật pháp và đàng hoàng trong luật chơi. Càng sinh sôi nảy nở nhiều, càng được bảo hộ, ưu đãi, cổ vũ, vinh danh… Trong những đồng bạc ấy, tôi nghĩ đến cả những đồng bạc do hôm qua “trót” tham nhũng mà có, nay được hưởng quy chế “khép lại quá khứ, không hồi tố” pháp luật thôi không “rờ” đến nữa. Mỗi đồng bạc thi nhau làm giầu chính đáng, có lợi cho mình và cho đất nước, để có cái trích ra một phần từ cái lợi làm ra được ấy làm giầu lại cho cộng đồng, cho đất nước. Nền kinh tế nên được vận hành theo cách khuyến khích gà đẻ trứng vàng, ngày càng nhiều gà đẻ trứng vàng, chứ không phải là đi săn gà đẻ trứng vàng như đang làm, tất cả với nguyên tắc có làm – có ăn, không có gì cho không, chống ăn cắp, khuyến khích những đồng bạc dám mạo hiểm làm giầu. Vấn đề sở hữu cũng vậy, khuyến khích mỗi đồng bạc tự dồn về không gian nào thích hợp cho nó nhất, nó có thể sinh lợi nhiều nhất. Vai trò “chủ đạo” không phải là duy ý chí hay chạy vạy cửa sau gán cho một lọai sở hữu nào đó, mà là để cho đồng bạc nào sinh lợi nhiều nhất với tinh thần vừa nêu trên tự giành lấy. Quyết sách kinh tế nên bao hàm cả quan điểm “lọt sàng xuống nia”, với nghĩa, dù mỗi đồng bạc vì lý do nào đấy “lọt” mất xuống nia cũng được khuyến khích sinh sôi nảy nở, và gần như bắt buộc (hay là bắt buộc – nếu nhà nước có tài) không được phép nằm im dưới gối. Các lực lượng vũ trang dứt khoát không được làm kinh tế.
Làm cho (a) nền kinh tế không có đồng bạc nào chịu nhàn rỗi, và (b) thực hành tiết kiệm – nên coi đấy là 2 quốc sách kinh tế hàng đầu.
Bên cạnh việc đưa nền kinh tế ra khỏi đáy khủng hoảng, tái cấu trúc nền kinh tế để có một cơ cấu mới từng bước đưa nền kinh tế ra khỏi cơ cấu lạc hậu hiện nay là vấn đề sống còn. Vì lẽ này, tăng trưởng GDP cần thiết đến thế nào chăng nữa, nhưng không nên coi là đòi hỏi quyết định. Cái đích cần tập trung sức nhằm vào là tăng trưởng đạt chất lượng cao, mang lại cải thiện thật sự cho nền kinh tế, và tạo ra được sản phẩm mới cho từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới. Trong nhiệm vụ này vai trò lựa chọn chiến lược kinh tế và quy hoạch phát triển phải có kiến thức và tầm nhìn mới.
(2) Về thể chế chính trị, tôi ước mong toàn bộ hệ thống chính trị hiện nay của đất nước cũng như từng công dân tập trung trí tuệ và nghị lực xây dựng nên được một nhà nước kiến tạo sự phát triển, hoạt động trên nền tảng kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự. Tôi thiển nghĩ, trước hết đấy là một nhà nước làm hết sức mình phục vụ vai trò làm chủ đất nước của nhân dân, coi nhiệm vụ phục vụ này là tối thượng. Nhà nước này lấy việc nâng cao sự giác ngộ về quyền làm chủ như vậy của nhân dân là con đường phát triển con người nói riêng và nguồn nhân lực quốc gia nói chung. Nhà nước này mang lại cho đất nước sự phát triển dựa trên nguồn nhân lực có sự giác ngộ cao nhất về quyền làm chủ đất nước của các công dân của nó, tạo ra động lực của phát triển  của đất nước là trí tuệ và văn hóa thường xuyên thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giáo dục trở thành nền móng của phát triển quốc gia.
Thiết nghĩ, chìa khóa cho toàn bộ sự nghiệp cải cách là tự do, dân chủ và công khai minh bạch.

Cuộc đời dứt dây động rừng

Ta làm việc cải cách hoàn toàn là công việc nội bộ của nước ta. Thế nhưng trong cái thế giới phức tạp chúng ta đang sống, sẽ khó tránh khỏi người thích kẻ chê, cả những kẻ xúi bẩy, thọc gậy bánh xe nữa, kẻ đâm bị thóc chọc bị gạo, kẻ đục nước béo cò, kẻ cướp cờ, kẻ tìm cách ngăn cản gián tiếp hay trực tiếp, kẻ dọa dẫm…  Song nước ta không thể chọn được thế giới, vì thế cần phải có bản lĩnh, thông minh, luôn luôn tạo ra trong dân sự đồng thuận cao nhất dựa trên trí tuệ và ý chí, để có điều kiện tốt nhất ta kiên định công việc của ta, không ngả nghiêng. Càng thấy, nâng cao dân trí và dân chủ là đòi hỏi vô cùng quan trọng cho mọi tình huống. Diên Hồng cũng là thế chứ gì! Trong cải cách, nhất thiết phải tránh cho bằng được kịch bản Việt Nam rơi vào số phận bị giằng xé như Ukraina lúc này. Toàn dân hiểu điều này và một lòng, dứt khoát sẽ tránh được.
Xin lưu ý, nguy cơ các nước lớn trực tiếp đánh nhau hiện nay vẫn tương đối ít. Song nguy cơ đang gia tăng là: Ở mọi nơi, các nước lớn tiếp tục giành giật nhau trên trận địa nước thứ ba hoặc các nước bên thứ ba. Bởi vì cục diện thế giới hậu chiến tranh lạnh đã chấm dứt, khoảng từ một thập kỷ nay đã đi vào cục diện quốc tế của một siêu đa cường, trong đó một số cường quốc đang nổi lên hơn trước với những đòi hỏi mới, nhất là Trung Quốc. Cuộc sống của thế giới hiện tại đang có nhiều tranh chấp mới, đang diễn ra một quá trình “tái cấu trúc” (xin tạm dùng khái niệm này cho gọn) trật tự kinh tế và chính trị. Tất cả càng thôi thúc Việt Nam phải sớm là một nước phát triển đứng vững chắc trên đôi chân của chính mình, chậm một ngày lo ngay ngáy một ngày, thua thiệt một ngày.
Song lúc này, sẽ là sai lầm phải trả giá, nếu lấy câu chuyện Ukraina bây giờ, hay chuyện biểu tình của đảng ông Sam Rainsy đang phá kết quả bầu cử ở Campuchia, chuyện các thế lực khác nhau ở Thái Lan đang mượn áo đỏ - áo vàng tranh giành nhau… để đi tới kết luận cho nước ta là cứ an phận thủ thường cam chịu như thế này là thượng sách, thậm chí để hù dọa khát vọng cải cách.
Sẽ là một tội lỗi phải lên án, nếu vin vào những chuyện như thế và nhân danh giữ ổn định để trấn áp mọi khát vọng tự do dân chủ của nhân dân…
Nhìn vào bất kể biến động quốc gia nào trên thế giới ngày nay, mầm mống ban đầu đều xuất phát từ bất công xã hội và mất dân chủ bên trong, kinh tế đổ vỡ. Một khi biến động ấy đã trở thành vấn đề quốc gia hay ở quy mô quốc gia, ngay lập tức nó biến quốc gia này thành “con mồi” – thành trận địa nước bên thứ ba – cho các thế lực lớn bên ngoài tranh giành nhau. Nói hình ảnh là thế này: Một con vật ốm yếu giữa hoang dã, ngay lập tức nó sẽ được các loài thú khác bu đến xâu xé. Vậy kết của câu chuyện là con vật này không được để mình rơi vào trạng thái ốm yếu, chứ không phải là tìm đường đi theo loài thú nào để mong có sự bảo hộ cho mình, hoặc nếu có tìm cách chê loài thú này và nịnh hót loài thú kia cũng chẳng được yên thân…
Trí tuệ, dân chủ, sự công bằng – đấy mới là nền tảng vững chắc của ổn định quốc gia, không một “định hướng xã hội chủ nghĩa” nào có thể thay thế được. Hơn thế nữa, phải có lực, có bản lĩnh, phải lựa chọn đi với cả nhân loại tiến bộ, để có thể cùng đi được với cả nhân loại tiến bộ và đồng thời để luôn luôn tranh thủ được hậu thuẫn của nhân loại tiến bộ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Bối cảnh thế giới lựa chọn cho đất nước ta là phấn đấu cho hòa bình, hữu nghị và hợp tác với mọi quốc gia, dứt khoát không đi với bên nào chống lại bên nào. Đơn độc, lạc lõng, bị cô lập, bị lệ thuộc đều dẫn đến chỗ chết. Không một chủ nghĩa hay tư duy ý thức hệ nào có thể đảo ngược được quy luật khắc nghiệt này của cuộc sống – kể cả chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Muốn ta là ta thì phải phấn đấu ta trở thành như vậy.  
Vì thế, dĩ bất biến ứng vạn biến trong cái thế giới quyết liệt này chỉ có thể bằng cách: Ta phải là chính ta trên nền móng của sự ổn định quốc gia và ta nhất quyết đứng trên đôi chân của ta. Chỉ có một Việt Nam của dân chủ và tự do mới có đủ trí tuệ, bản lĩnh và nghị lực tạo ra được cho đất nước vị thế ta là ta như thế! Khẩu hiệu “Nước Việt Nam của người Việt Nam!” đã từng vực cả nước đứng lên trong Cách mạng Tháng Tám, hôm nay mang một nội dung mới như thế.
Hơn bao giờ hết, đất nước ta bây giờ cần làm sống lại với nội dung mới của thời đại chúng ta đang sống tinh thần Cách mạng Tháng Tám, Tuyên Ngôn Độc Lập, Hiến pháp 1946.

Đôi điều tâm sự

Viết loạt bốn bài chữ tín, đối với tôi là cái nghiệp với lọn nghĩa của từ “nghiệp” - nghĩa là phải viết, dù trong tôi cũng chống lại quyết liệt.
Có nhiều lẽ lắm. Trong đó có nỗi lo tầm nhìn của mình không bao quát được vấn đề mình viết ra, trách nhiệm lớn quá... Trong đó có nỗi lo rước vạ vào thân…  Trong đó có những ray rứt của tôi về thất bại của những người đi trước, nỗi ray rứt từ món nợ của riêng tôi đối với những người đi trước, trong đó có anh Nguyễn Cơ Thạch…
 Vì những điều ngổn ngang chưa ngã ngũ này, sau khi viết xong bài 1, cái chủ nghĩa “makeno” trong tôi quẳng việc này đi hàng chục ngày, mặc dù nội dung cho cả bốn bài đã định hình trong đầu, chỉ cần ngồi vào bàn một, hai ngày là xong.
 Cái ray rứt kéo tôi lại vào bàn. Tôi không thể ngồi yên nhìn, cứ mỗi lần đại hội đảng đến, là một lần đảng bước thêm một bước vào khóa tha hóa mới. Bốn thập kỷ vừa qua ở vị trí độc quyền, đảng đã phạm không ít sai lầm nghiêm trọng đối với đất nước, đối với chính bản thân sự nghiệp của của đảng. Nhưng hiển nhiên cách khắc phục như đã làm cho đến nay không sao đảo ngược được xu thế đảng tha hóa ngày càng trầm trọng. Đất nước trong những thập kỷ vừa qua tuy có phát triển (thật ra là tự nó nhiều hơn) nhưng đắt quá, để lại quá nhiều hậu quả mà chung cuộc chưa ai nói trước được sẽ ra sao. Trong khi đó có nhiều vấn đề rất khó đất nước phải đối mặt vượt quá bản lĩnh chính trị của đảng và năng lực quản trị của nhà nước. Mặt khác năng lực của quốc gia đang bị kìm hãm, trí tuệ rởm xua đuổi trí tuệ chân chính, cái ác vẫn cứ thắng cái thiện. Hiện tại đang ngổn ngang bao nhiêu vấn đề sống còn, đại hội XII cứ theo đường mòn thế này, đất nước sẽ đi đâu? về đâu?..
 Người tôi tâm sự nhiều nhất trong những ngày ray rứt viết loạt bài chữ “tín” này là cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, tác giả bức thư ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị ĐCSVN: Tôi lục lại trí nhớ về sự thất bại của bức thư này để rút kinh nghiệm cho mình. Bức thư này đánh dấu kết thúc sự nghiệp của tôi là cán bộ viên chức của bộ máy nhà nước.
 Chuyện cũ là thế này, bức thư thật ra chỉ mang những kiến nghị rất sơ khởi ban đầu và rất thận trọng – anh Võ Văn Kiệt chủ tâm như thế để đi từng bước. Nhưng bức thư vẫn bị bác bỏ rất quyết liệt, gây ra cho anh nhiều khó khăn mà tôi là người giúp việc cũng không hình dung nổi. Trong những phê phán nặng nề dành cho anh Kiệt về bức thư này, có một ý cho là do anh Kiệt dùng tôi làm trợ lý nên mới sinh chuyện ra như vậy. Khi ý này đến được tai tôi, ngay ngày hôm sau tôi gửi anh Kiệt bức thư xin thôi nhiệm vụ trợ lý và về hưu, coi đấy là sự phản đối của tôi về “cái ý” khó nghe ấy. Đưa thư xong tôi không trở lại nhiệm sở nữa, cũng không chờ quyết định của cơ quan. Vì tình cảm giữa hai chúng tôi cũng bịn rịn, để anh Kiệt khỏi buồn, kèm theo cái thư “từ quan” (xin tạm gọi như vậy cho vui) tôi tặng anh một bài thơ và một chai rượu tôi tự làm để chia tay, với hứa hẹn: Tôi sẽ giúp anh nhiều hơn với tư cách là người tự do. Tôi đã giữ được lời hứa này.
 Bây giờ chỉ còn một món nợ lớn đối với anh Võ Văn Kiệt tôi chưa trả được: - Ráng đóng góp vào việc đổi mới đảng!.. Tôi không ngờ đấy lại là lời dặn dò cuối cùng của anh khi chúng tôi mỗi người mỗi việc chia tay nhau – khoảng hai tuần sau, anh đi xa…
 Có thể nói, cuối cùng ray rứt vì món nợ không trả được, tôi quyết viết bằng xong 4 bài này, đúng – sai sau này sẽ tính thêm, sửa thêm, cứ phải viết xuống giấy cái đã, nếu không lại nhụt trí mất.
 Câu chuyện đáng nói ở đây là thế này, những vấn đề nêu trong bức thư 09-08-1995 còn nguyên vẹn tính thời sự đối với đất nước với đảng hôm nay. Thông điệp đầu năm 2014 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu lại được một phần những vấn đề còn nguyên vẹn của bức thư đã được viết cách đây 19 năm. Tôi muốn nhìn nhận thông điệp này là sự thú nhận gián tiếp và không tự giác về tình trạng trì trệ và xuống cấp tiếp của đảng, của nhà nước. Ngẫm nghĩ như thế, viết 4 bài này tôi tự hỏi: Đất nước ta, dân tộc ta có đáng phải chịu đứng chết trong một khúc quanh như vậy của lịch sử hay không, một trạng thái trì trệ gần như một thứ bệnh hoại thư?..
 Viết bốn bài này, một lần nữa tôi thú nhận mình cũng không vô can về những gánh nặng đất nước đang phải chịu đựng./.

Võng Thị - Hà Nội, ngày 05-03-2014

 * Thông điệp đầu năm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


Viewing all articles
Browse latest Browse all 6664

Trending Articles